Tuy nhiên, cùng với cơ hội mở rộng thị trường là những yêu cầu ngày càng
khắt khe về môi trường, truy xuất nguồn gốc, sở hữu trí tuệ và phát triển bền
vững, buộc doanh nghiệp phải chủ động chuyển đổi nếu muốn giữ vững lợi thế cạnh
tranh.
Đơn hàng khởi sắc, dư địa tăng trưởng còn lớn
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 6 tháng đầu năm 2026,
tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt 35,88 tỷ USD, tăng 6% so
với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhiều nhóm hàng như gỗ và sản phẩm gỗ, cà phê,
rau quả… tiếp tục duy trì tăng trưởng tích cực, tạo nền tảng cho mục tiêu
tăng tốc xuất khẩu trong nửa cuối năm.
Dù bối cảnh thương mại toàn cầu còn nhiều biến động,
nhiều doanh nghiệp vẫn lạc quan về triển vọng thị trường. Theo ông Nguyễn Bình
Minh, doanh nhân nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu nông sản và cà
phê, sau những biến động tại Trung Đông, nhiều nhà nhập khẩu đang có xu hướng
đa dạng hóa nguồn cung, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt ở
nhóm nông sản chế biến sâu.
Ông Minh cho rằng Việt Nam đang được nhiều đối tác quốc
tế đánh giá là nguồn cung ổn định trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu liên
tục biến động. Nếu doanh nghiệp chủ động đầu tư công nghệ, nâng cao chất lượng
sản phẩm và đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường châu Âu, cơ hội mở rộng thị
phần sẽ rất lớn.
“Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội tiếp cận các
thị trường lớn. Nếu doanh nghiệp sẵn sàng thay đổi, tiếp thu công nghệ sản xuất
theo tiêu chuẩn quốc tế thì không chỉ mở rộng được thị trường mà còn xây dựng
được chỗ đứng bền vững trong chuỗi cung ứng toàn cầu”, ông Minh nhận định.
Ở lĩnh vực chế biến gỗ, ông Nguyễn Quang Vũ, Giám đốc
Công ty XNK Hà Quang, cho biết hoạt động xuất khẩu vẫn duy trì đà tăng trưởng
ổn định. Bên cạnh các thị trường truyền thống, doanh nghiệp còn nhận thêm nhiều
đơn hàng từ các thị trường mới.
Theo ông Vũ, mặc dù chi phí vận tải quốc tế vẫn ở mức
cao nhưng không phải là rào cản quá lớn đối với các đơn hàng giá trị cao. Điều
quan trọng hơn là doanh nghiệp cần chủ động nguồn nguyên liệu, năng lực sản
xuất và kế hoạch giao hàng để đáp ứng nhu cầu tăng mạnh trong mùa mua sắm cuối
năm.
Từ góc nhìn của doanh nghiệp thương mại, ông Nguyễn Tuấn Việt, Tổng
Giám đốc Công ty TNHH VietGo, đánh giá nhóm nông sản tiếp tục giữ vai trò quan
trọng trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam. Trong đó, cà phê, hạt điều, hồ tiêu
cùng nhiều sản phẩm chế biến sâu không chỉ có lợi thế về sản lượng mà còn sở
hữu tiềm năng lớn trong việc xây dựng thương hiệu quốc gia và nâng cao giá trị
tài sản trí tuệ.
Theo ông Việt, thời gian gần đây lượng khách hàng quốc
tế tìm kiếm các sản phẩm cà phê, hồ tiêu và hạt điều của Việt Nam tăng đáng kể.
Riêng ngành cà phê, dù kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm giảm khoảng 15% so
với cùng kỳ nhưng vẫn đạt 4,58 tỷ USD, tiếp tục khẳng định vị thế là một trong
những ngành hàng xuất khẩu chủ lực.
Tiêu chuẩn xanh trở thành “tấm vé” giữ thị phần
Nếu như trước đây thuế quan là rào cản lớn nhất đối với
hàng hóa xuất khẩu thì hiện nay, các thị trường nhập khẩu lớn đang chuyển mạnh
sang kiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng. Những yêu cầu về phát thải carbon, truy
xuất nguồn gốc, điều kiện lao động, trách nhiệm xã hội và phát triển bền vững
ngày càng trở thành tiêu chí bắt buộc đối với hàng hóa nhập khẩu.
Tại Hội nghị giao ban xúc tiến thương mại với hệ thống
Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài quý II/2026 diễn ra ngày 7/7, đại diện các
Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài đã đưa ra nhiều khuyến nghị đối với doanh
nghiệp xuất khẩu.
Theo ông Đỗ Ngọc Hưng, Tham tán Thương mại Việt Nam tại
Hoa Kỳ, mặc dù xuất khẩu của Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng trong nhiều ngành
hàng, song những tháng cuối năm sẽ chịu tác động từ chính sách thuế quan cũng
như các biện pháp phòng vệ thương mại.
Đáng chú ý, Hoa Kỳ đang tăng cường các cuộc điều tra
liên quan đến lao động, môi trường, sở hữu trí tuệ, xuất xứ hàng hóa và chuỗi
cung ứng. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải chuẩn bị đầy đủ hồ sơ về
xuất xứ, hệ thống truy xuất nguồn gốc cũng như các tiêu chuẩn phát triển bền
vững nếu muốn duy trì thị phần.
Trong khi đó, tại thị trường Hà Lan cũng như nhiều nước
thuộc Liên minh châu Âu (EU), thách thức không còn nằm ở thuế nhập khẩu nhờ lợi
thế từ Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU, mà chuyển sang các tiêu chuẩn
xanh và yêu cầu phát triển bền vững.
Theo bà Võ Thị Ngọc Diệp, Tham tán Thương mại Việt Nam
tại Hà Lan, EU đang mở rộng Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM), thúc đẩy
thực thi Quy định chống mất rừng (EUDR), đồng thời siết chặt các quy định về dư
lượng thuốc bảo vệ thực vật, truy xuất nguồn gốc, kinh tế tuần hoàn, trách
nhiệm xã hội và các tiêu chí ESG.
Xu hướng quản lý của EU đang chuyển từ kiểm soát chất
lượng sản phẩm sang giám sát toàn bộ chuỗi cung ứng, từ vùng nguyên liệu, phát
thải carbon đến điều kiện lao động và trách nhiệm môi trường. Đây không còn là
yêu cầu mang tính ngắn hạn mà sẽ trở thành tiêu chuẩn cạnh tranh lâu dài đối
với hàng hóa nhập khẩu.
Các chuyên gia nhận định, lợi thế từ các hiệp định thương mại tự do sẽ tiếp
tục mở rộng dư địa cho nông sản Việt Nam. Tuy nhiên, để tận dụng hiệu quả cơ
hội trong những tháng cuối năm và những năm tiếp theo, doanh nghiệp cần chuyển
từ tư duy đáp ứng đơn hàng sang đáp ứng tiêu chuẩn. Chỉ khi xây dựng được chuỗi
sản xuất minh bạch, đáp ứng các yêu cầu về môi trường, truy xuất nguồn gốc và
phát triển bền vững, nông sản Việt Nam mới có thể giữ vững thị phần và nâng cao
giá trị trên thị trường quốc tế.
Hồng Hương
Nguồnvnbusiness.vn



