Các đạo luật do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì xây dựng được kỳ vọng tạo nền tảng pháp lý đồng bộ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và năng lực cạnh tranh quốc gia…
Ngày 5/1, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước về 13 luật vừa được Quốc hội khóa XV thông qua.
Trong đó, các đạo luật do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì xây dựng được kỳ vọng tạo nền tảng pháp lý đồng bộ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và năng lực cạnh tranh quốc gia, như: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ; Luật Trí tuệ nhân tạo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ; Luật Công nghệ cao; Luật Chuyển đổi số.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ gồm 3 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/4/2026.
Việc ban hành Luật nhằm tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ một cách hiệu quả, đồng bộ, phù hợp với yêu cầu thực tiễn và chủ trương phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời bắt kịp xu thế thế giới trong chuyển giao công nghệ.
Tăng cường phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính; tăng cường công tác thông tin, thống kê về chuyển giao công nghệ phục vụ quản lý nhà nước. Thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ nội sinh, khơi luồng công nghệ giữa các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong nước và giữa các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân.
Đồng thời phát triển thị trường khoa học và công nghệ hoạt động hiệu quả, minh bạch và chuyên nghiệp, tạo môi trường thuận lợi cho các giao dịch công nghệ, tài sản trí tuệ, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Luật Trí tuệ nhân tạo gồm 8 chương, 35 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/3/2026.
Việc xây dựng Luật nhằm thiết lập khuôn khổ pháp lý thống nhất cho phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo, bảo đảm phát triển an toàn, có trách nhiệm và vì con người; thúc đẩy trí tuệ nhân tạo trở thành hạ tầng trí tuệ quốc gia, là động lực cho tăng trưởng năng suất, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và năng lực cạnh tranh quốc gia; tạo lập môi trường pháp lý minh bạch, nhân văn và đáng tin cậy, khuyến khích hợp tác, sáng tạo, thương mại hóa và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/4/2026, cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số toàn diện hoạt động sở hữu trí tuệ; thúc đẩy khai thác thương mại quyền sở hữu trí tuệ; bảo hộ đối tượng mới; xử lý vấn đề mới phát sinh và nâng cao hiệu quả của hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ…
Cụ thể, Luật Công nghệ cao gồm 6 chương, 27 điều; tạo hành lang pháp lý đầy đủ, thống nhất để thúc đẩy phát triển công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ chiến lược; tập trung nguồn lực quốc gia cho nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và làm chủ các công nghệ có tính đột phá, lan tỏa. Đồng thời, hoàn thiện chính sách, xác định công nghệ cao, công nghệ chiến lược là một trong những đột phá chiến lược nhằm phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia.
Đối với Luật Chuyển đổi số, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2026. Luật đã thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; trong đó xác định thể chế là điều kiện tiên quyết, cần hoàn thiện và đi trước một bước; đưa thể chế thành một lợi thế cạnh tranh trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Luật Chuyển đổi số gồm 8 chương, 48 Điều, giải quyết 5 nhóm vấn đề cốt lõi nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn, tạo động lực đột phá cho chuyển đổi số quốc gia, bao gồm: (1) Thiết lập khung pháp lý thống nhất để hình thành quốc gia số; (2) Thiết lập hành lang pháp lý về hoạt động chuyển đổi số, bảo đảm vừa quản lý, vừa thúc đẩy phát triển toàn diện chính phủ số, kinh tế, xã hội số; (3) Thiết lập cơ chế điều phối quốc gia về Chuyển đổi số bảo đảm thống nhất, hiệu quả; (4) Luật hóa cơ chế về tài chính, nhân lực số cho chuyển đổi số; (5) Quy định cơ chế đánh giá định kỳ, công khai kết quả chuyển đổi số; (6) Tuyên hủy Luật Công nghệ thông tin.
Luật Chuyển đổi số đã thiết lập nhận thức chung quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và chuẩn hóa các khái niệm nền tảng; xác định rõ nội hàm các hoạt động chuyển đổi số và các hành vi bị nghiêm cấm nhằm bảo đảm kỷ cương, an toàn trên môi trường số.
-Hạ Chi




