Trong bối cảnh nông nghiệp Việt Nam đứng trước yêu cầu chuyển đổi xanh và phát triển bền vững, bài toán dòng vốn vẫn đang trở thành nút thắt lớn đối với doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân…
Ngày
22/5/2026 tại Hà Nội, Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam phối
hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan tổ chức Diễn đàn “Khơi thông dòng vốn
cho nông nghiệp: Giải pháp tín dụng an toàn và bền vững cho doanh nghiệp và
nông dân”, đồng thời khởi động Chương trình Vietnam Agriculture Reputation
Index (VARI) và ra mắt cổng thông tin điện tử VARI.
THỰC
TRẠNG KHÓ KHĂN TRONG TIẾP CẬN VỐN
Phát biểu tại diễn đàn, ông
Hồ Xuân Hùng – Chủ tịch Tổng hội Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, nhấn mạnh: Trong bối cảnh kinh tế thế giới
biến động phức tạp, cạnh tranh thương mại gia tăng, xung đột địa chính trị kéo
dài và biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng, nông nghiệp Việt Nam đứng trước
yêu cầu phải tái cơ cấu mạnh mẽ theo hướng hiện đại, sinh thái, tuần hoàn và bền
vững. Tuy nhiên, rào cản lớn nhất hiện nay vẫn là nguồn vốn.
Thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân còn gặp khó khăn khi tiếp cận tín dụng do thiếu tài sản bảo đảm, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, năng lực quản trị tài chính hạn chế, trong khi rủi ro thiên tai, dịch bệnh và biến động thị trường ngày càng lớn. Đối với lĩnh vực nông nghiệp xanh, nông nghiệp hữu cơ hay ứng dụng công nghệ cao, thời gian đầu tư kéo dài, khả năng thu hồi vốn chậm nhưng nhu cầu vốn lại rất lớn.

“Không chỉ khó tiếp cận vốn trong nước, doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam còn phải đối mặt với nhiều rủi ro trong giao dịch quốc tế. Thời gian qua đã xuất hiện hàng loạt vụ việc doanh nghiệp bị đối tác nước ngoài chiếm dụng hàng hóa, chậm thanh toán hoặc có dấu hiệu lừa đảo thương mại với thủ đoạn ngày càng tinh vi”, ông Hùng nêu thực tế, đồng thời cho rằng những vụ việc này cho thấy vai trò quan trọng của hệ thống
ngân hàng trong hỗ trợ doanh nghiệp về thanh toán quốc tế, bảo lãnh tín dụng,
xác minh đối tác và phòng ngừa rủi ro.
TS Nguyễn Trí Ngọc, Phó Chủ tịch Thường trực Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn Việt Nam, cho biết những năm gần đây, nông nghiệp tiếp tục khẳng định
vai trò là trụ đỡ của nền kinh tế. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy
sản đạt trên 70 tỷ USD; năm 2026 ngành đặt mục tiêu đạt khoảng 76-78 tỷ USD.
Ngành nông nghiệp cũng duy trì xuất siêu từ 20-30 tỷ USD mỗi năm.
Theo TS. Ngọc,
đằng sau những con số tăng trưởng là nỗ lực của hàng triệu hộ nông dân, hàng chục
nghìn hợp tác xã và cộng đồng doanh nghiệp, trong đó phần lớn là doanh nghiệp
nhỏ và vừa. Tuy nhiên, để phát triển nông nghiệp xanh và phát thải thấp, vấn đề
then chốt vẫn là nguồn vốn.
Dù Đảng, Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn, song thực tế vẫn còn nhiều vướng mắc. Tính đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt khoảng 3,98 triệu tỷ đồng với hơn 14,5 triệu khách hàng còn dư nợ. Tuy nhiên, doanh nghiệp nông nghiệp, hợp tác xã và người dân vẫn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận vốn vay.

Khó
khăn lớn nhất là thiếu tài sản bảo đảm. Phần lớn doanh nghiệp nông nghiệp là
doanh nghiệp nhỏ và vừa; hợp tác xã và hộ sản xuất có quy mô nhỏ, tài sản hạn
chế nên khó đáp ứng yêu cầu thế chấp của ngân hàng. Nhiều doanh nghiệp thuê đất
của nông dân hoặc thuê đất ngắn hạn nên chưa đủ điều kiện pháp lý để vay vốn
trung và dài hạn.
Ngoài
ra, dù thủ tục tín dụng đã được cải cách nhưng vẫn còn phức tạp; thời gian thẩm
định kéo dài; chi phí vốn và áp lực trả nợ cao, trong khi sản xuất nông nghiệp
chịu nhiều rủi ro từ thiên tai, biến đổi khí hậu và biến động thị trường. Việc
tiếp cận tín dụng xanh và nguồn vốn cho nông nghiệp công nghệ cao cũng còn nhiều
trở ngại đối với hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và người dân.
CẦN
CƠ CHẾ TÍN DỤNG ĐẶC THÙ CHO NÔNG NGHIỆP XANH
Theo
các chuyên gia tại diễn đàn, tín dụng xanh sẽ là động lực quan trọng thúc đẩy
quá trình chuyển đổi nông nghiệp. Thực tế, nhiều mô hình nông nghiệp hữu cơ và
phát thải thấp không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn nâng cao giá trị sản phẩm,
giảm chi phí đầu vào và tăng thu nhập cho người dân.
Một
số mô hình sản xuất lúa hữu cơ, cà phê hữu cơ phát thải thấp tại Sơn La, Mường
Lò và vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã cho thấy hiệu quả rõ rệt khi giảm từ
40–60% chi phí đầu vào, gia tăng giá trị sản phẩm, đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu
xanh và từng bước xây dựng thương hiệu nông sản Net Zero.

Nhằm tháo gỡ khó khăn về vốn cho lĩnh vực nông nghiệp, TS. Ngọc đề xuất bốn nhóm giải pháp trọng tâm.
Thứ
nhất: Cần hoàn thiện cơ chế tín dụng đặc thù cho nông nghiệp, cho phép sử dụng
tài sản hình thành từ dự án, hợp đồng liên kết chuỗi hoặc quyền thuê đất dài hạn
làm tài sản bảo đảm.
Thứ
hai: Nâng cao hiệu quả các quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng
thời phát triển các quỹ đầu tư xanh và quỹ đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp.
Thứ
ba: Xây dựng cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước, ngân hàng, doanh nghiệp và
người dân, nhất là trong các lĩnh vực chịu tác động lớn của thiên tai và biến đổi
khí hậu.
Thứ
tư: Thúc đẩy tín dụng xanh gắn với chuyển đổi số, đơn giản hóa thủ tục tiếp cận
vốn và hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã ứng dụng công nghệ số, truy xuất nguồn gốc,
quản lý phát thải và đáp ứng các tiêu chuẩn ESG (Môi trường – Xã hội – Quản trị).

Trong
khuôn khổ chương trình, các đại biểu cũng chứng kiến lễ khởi động Chương trình
khảo sát, xếp hạng và công bố tín nhiệm doanh nhân, doanh nghiệp ngành nông
nghiệp Việt Nam – Vietnam Agriculture Reputation Index (VARI).
Chương trình
VARI được xây dựng nhằm khảo sát, đánh giá mức độ tín nhiệm của doanh nghiệp và
doanh nhân trong lĩnh vực nông nghiệp một cách khoa học, khách quan và minh bạch.
Qua đó, người tiêu dùng, nông dân và các chủ thể kinh tế có thể nhận diện những
doanh nghiệp uy tín, có trách nhiệm để ưu tiên hợp tác và phát triển. Đồng thời,
chương trình cũng góp phần nâng cao chuẩn mực đạo đức kinh doanh, thúc đẩy cạnh
tranh lành mạnh và tạo giá trị bền vững cho ngành nông nghiệp Việt Nam.
-Chu Khôi




