Quy hoạch tầm nhìn 100 năm định vị TP.Hồ Chí Minh thành siêu đô thị đa cực, trung tâm kinh tế toàn cầu. Để hiện thực hóa mục tiêu này, thành phố phải thay đổi tư duy, quyết liệt giải quyết bẫy năng suất và rào cản thể chế nhằm giảm chi phí, tạo động lực tăng trưởng mới bền vững…
Ngày 2/6/2026, HĐND TP.Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo
“Quy hoạch tổng thể TP.Hồ Chí Minh tầm nhìn 100 năm”. Đây là diễn đàn khoa học đầu
tiên trong quá trình triển khai lập quy hoạch theo Nghị quyết 260/2025 của Quốc
hội và Nghị quyết 09-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Tại hội thảo, bản quy hoạch do Viện Quy
hoạch đô thị và nông thôn quốc gia phối hợp Công ty tư vấn Boston (BCG) thực hiện
đã được trình bày lần đầu, cùng hàng loạt góc nhìn phản biện từ các chuyên gia
trong và ngoài nước.
CHUYỂN ĐỔI TƯ DUY QUY HOẠCH: ĐỀ CAO HIỆU QUẢ KINH
TẾ KHI PHÂN BỔ KHÔNG GIAN
Điểm được nhất trí rộng rãi nhất tại hội
thảo không phải là các con số mục tiêu, mà là yêu cầu thay đổi căn bản tư duy
quy hoạch.
TS Trần Du Lịch, nguyên Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH TP.Hồ Chí Minh, đặt vấn
đề: “Nếu trước đây quy hoạch chủ yếu trả lời câu hỏi “đất này
làm gì” thì tư duy mới phải trả lời những câu hỏi lớn hơn — ngành kinh tế nào tạo
ra giá trị gia tăng cao nhất, con người sẽ sống và làm việc ra sao, hạ tầng nào
tạo đột phá năng suất và đâu là các yếu tố bảo đảm phát triển bền vững, thích ứng
với biến đổi khí hậu?”.
“Với diện tích hơn 6.700 km2 và dân số khoảng
14 triệu người sau sáp nhập, TP.Hồ Chí Minh không còn là một đô thị đơn lẻ mà đang tiến
gần mô hình vùng đại đô thị (megacity region), và quy hoạch cần phản ánh đúng bản
chất đó.
Sự dịch chuyển tư duy này có ý nghĩa thực tiễn sâu xa”, TS Trần Du Lịch nhấn mạnh; đồng thời cho rằng quy hoạch hiện đại cần trả lời được câu hỏi quan trọng nhất: TP.Hồ Chí Minh sẽ giữ
vai trò gì trong mạng lưới các thành phố toàn cầu của châu Á trong 25, 50 hay
100 năm tới. Từ câu trả lời đó mới thiết kế không gian, hạ tầng và hệ sinh
thái kinh tế phù hợp, thay vì làm ngược lại.
Đồng tình, ông Sầm Minh Tuấn, Phó Giám đốc Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn quốc gia
(VIUP), cho biết thách thức lớn nhất của TP.Hồ Chí Minh không nằm ở thiếu tiềm
năng phát triển, mà ở khả năng tổ chức lại nguồn lực và không gian phát triển
thành một cấu trúc thống nhất, đa cực, vận hành hiệu quả.
MÔ HÌNH 5-5-10 VÀ 6 KHU ĐẶC THÙ
Bản quy hoạch đề xuất TP.Hồ Chí Minh vận hành theo mô hình siêu đô thị đa cực với cấu
trúc 5-5-10: 5 cực động lực, 5 trục chiến lược và 10 vùng quản trị phát triển,
liên kết bằng mạng lưới hạ tầng đô thị đa tầng gồm metro, TOD, không gian ngầm
và trên cao làm xương sống. Đặc biệt, trục “xanh và xanh dương” dọc
theo hệ thống sông Sài Gòn, sông Đồng Nai và rừng ngập mặn Cần Giờ được xác định
là hạ tầng sinh thái nền tảng, không chỉ là không gian cảnh quan mà là lá chắn
thích ứng biến đổi khí hậu cho toàn đô thị.
Để tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, quy hoạch thiết lập 6 khu đặc thù với
cơ chế vượt trội: Khu công nghệ cao tại Thủ Đức và các khu vực lân cận chuyên về
chip, bán dẫn và robot; khu thương mại tự do gắn với cụm cảng Cái Mép – Cần Giờ,
tích hợp logistics và sản xuất xuất khẩu; trung tâm tài chính quốc tế tại khu vực Quận 1 và Thủ Thiêm vận hành theo khung pháp lý tiệm cận thông lệ quốc tế;
trung tâm công nghệ số và dữ liệu ưu tiên hạ tầng tính toán, trí tuệ nhân tạo
và an ninh mạng; trung tâm năng lượng quốc gia phát triển LNG, hydrogen và điện
gió ngoài khơi tại Phú Mỹ, Long Sơn; khu phát triển thương mại và văn hóa trọng
tâm tại Rạch Chiếc, Thanh Đa.
Góp ý cho Dự thảo quy hoạch, Kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn cho rằng TP.Hồ Chí Minh hoàn toàn có thể đạt tăng trưởng hai con
số nếu đẩy mạnh tư duy liên kết vùng, trong đó kết nối với TP. Đồng Nai, Tây
Ninh hướng về cửa khẩu và Tây Nguyên, đồng thời khai thác hành lang biển Đông
qua cụm cảng Cái Mép – Thị Vải.
“Nhiều mô hình đô thị tại
TP.Hồ Chí Minh như TOD, khu thương mại tự do chưa có tiền lệ trong hệ thống pháp luật
Việt Nam, vì vậy cần nền tảng pháp lý tương ứng để thực thi”, ông Sơn lưu ý.
NĂNG SUẤT: ĐIỂM NGHẼN QUYẾT ĐỊNH TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG
Ông Vũ Ngọc Dũng, đại diện nhóm nghiên cứu thực hiện so sánh 40 chỉ số năng lực cạnh tranh của TP.Hồ Chí Minh với khoảng 50 đô thị Đông Nam Á đã đưa ra những phát hiện đáng chú ý. Một trong những lợi thế lớn nhất của TP.Hồ Chí Minh từ trước đến nay là quy mô dân số lớn và lực lượng lao động trẻ, nhưng từ năm 2021 đến nay, tốc độ tăng dân số và khả năng thu hút dân cư đã có dấu hiệu chậm lại đáng kể.
“Nếu muốn duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong tương lai, thành phố phải tiếp tục hấp dẫn người dân và doanh nghiệp bằng những điều kiện sống và làm việc tốt hơn”, ông Dung đề xuất.

Ông Dũng cũng chỉ ra một điểm nghịch lý thú vị: mặc dù chịu áp lực giao thông lớn,
thời gian di chuyển trung bình hàng ngày của người dân TP.Hồ Chí Minh vẫn ở mức tương đối
cạnh tranh so với nhiều đô thị trong khu vực nhờ tính linh hoạt cao của
phương tiện cá nhân, đặc biệt là xe máy.
Từ góc nhìn đó, ông Dũng ủng hộ định hướng
chuyển đổi sang xe máy điện thay vì cấm xe máy, đồng thời cũng nhấn mạnh: Vấn đề không nằm ở bản
thân xe máy mà nằm ở công nghệ và mức độ phát thải. Nếu giải quyết được bài
toán chuyển đổi phương tiện theo hướng xanh, thành phố vừa duy trì tính linh hoạt
giao thông, vừa cải thiện đáng kể chất lượng môi trường.
Điểm nhấn quan trọng nhất trong phân tích của ông Dũng là cảnh báo về bẫy năng
suất: khoảng cách năng suất giữa TP.Hồ Chí Minh với các địa phương khác đang dần thu hẹp,
trong khi chi phí ùn tắc, chi phí logistics và chi phí nhà ở ngày càng trở
thành rào cản thu hút đầu tư. Vì vậy, muốn tăng trưởng nhanh hơn, thành phố phải
giảm chi phí cho doanh nghiệp và giảm chi phí sinh hoạt cho người dân. Đó là điều
kiện tiên quyết để tiếp tục thu hút đầu tư, thu hút lao động chất lượng cao và
duy trì động lực phát triển.
Đồng quan điểm, ông Vũ Đoàn Thái Long, Quản lý dự án cấp cao Roland Berger tại Việt Nam, cho rằng TP.Hồ Chí Minh không thiếu tiềm năng mà thiếu cơ chế để biến tiềm
năng thành mô hình tăng trưởng bền vững.
“Thành phố cần tập trung vào các ngành
công nghiệp giá trị cao như bán dẫn, công nghệ sinh học và các trung tâm y tế,
giáo dục, logistics, kinh tế số”, ông Long đề xuất, đồng thời kiến nghị cần có cơ chế điều phối cấp
thành phố đủ mạnh, sandbox thể chế và các dự án mang tính biểu tượng có sức lan
tỏa.
NGUỒN LỰC VÀ CÁC HƯỚNG HỢP TÁC QUỐC TẾ
Về tài chính thực hiện quy hoạch, bà Vũ Hoàng Uyên, đại diện Ngân hàng Thế giới,
đề xuất tái cấu trúc đầu tư công tập trung cho các chương trình trọng điểm như
TOD. Với phân bổ nguồn lực hợp lý, TP.Hồ Chí Minh có thể hấp thụ gấp 3–5 lần
con số 800.000 tỷ đồng đầu tư công giai đoạn 5 năm, đồng thời cần khai thác
trái phiếu xanh và tín chỉ carbon như những công cụ tài chính bổ sung.
Đáng chú ý, đại diện ngoại giao từ Singapore và Pháp đều khẳng định sẵn sàng hỗ
trợ TP.Hồ Chí Minh trong quá trình xây dựng quy hoạch, từ mô hình kết nối đa phương tiện
đến cơ sở hạ tầng giao thông và phát triển không gian sống chất lượng
cao.
Phó Chủ tịch UBND TP.Hồ Chí Minh Bùi Xuân Cường cho biết đây không phải là một đồ án
quy hoạch theo nghĩa truyền thống, mà là sự tích hợp và đồng bộ nhiều loại hình
quy hoạch khác nhau, từ quy hoạch tỉnh theo Luật Quy hoạch đến quy hoạch chung
xây dựng và các quy hoạch đô thị liên quan.
“Quy hoạch cần tạo ra một
khung phát triển đủ ổn định để dẫn dắt đầu tư, định hướng phát triển đô thị và
quản lý không gian hiệu quả; đồng thời bảo đảm tính linh hoạt để thích ứng với
những thay đổi nhanh chóng của khoa học công nghệ, kinh tế số và các xu hướng
phát triển mới trên thế giới”, ông Cường nhấn mạnh.
Nhìn tổng thể, hội thảo đã phản ánh một nhận thức ngày càng rõ ràng, bản
quy hoạch 100 năm của TP.Hồ Chí Minh sẽ không được đánh giá bằng độ dày của tài liệu
hay số lượng dự án liệt kê, mà bằng khả năng giải quyết đúng những điểm nghẽn cốt
lõi, đó là năng suất, kết nối, chi phí sinh hoạt và không gian sinh thái. Đây là những
yếu tố quyết định liệu TP.Hồ Chí Minh có thực sự trở thành siêu đô thị toàn cầu hay chỉ
là siêu đô thị về quy mô dân số.
-Nguyệt Hà
Nguồn:vneconomy.vn




