Chuyển đổi số trong khu vực hợp tác xã vẫn chậm và tiềm ẩn nhiều rủi ro an ninh mạng, trong khi các hình thức lừa đảo trực tuyến ngày càng tinh vi, gây thiệt hại lớn. Các chuyên gia cảnh báo cần sớm hoàn thiện hạ tầng, nâng cao năng lực số và tăng cường giải pháp bảo mật để bảo vệ hợp tác xã trước nguy cơ mất dữ liệu, tài sản.
Chiều 9/4/2026, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam phối hợp với
Quỹ Châu Á giao cho Viện Khoa học Kinh tế Hợp tác và Trường Cao đẳng Kinh tế –
Kỹ thuật Trung ương tổ chức tọa đàm khoa học với chủ đề: “Giải pháp thúc đẩy ứng
dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đảm bảo an toàn
thông tin trên không gian mạng cho khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã”.
CHUYỂN ĐỔI SỐ HỢP TÁC XÃ, ĐẢM BẢO AN TOÀN THÔNG TIN
Phát biểu khai mạc toạ đàm, ông Đinh Hồng Thái, Phó Chủ tịch
thường trực Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, nhận định việc ứng dụng công nghệ
thông tin và số hóa quy trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hiện nay là yêu cầu tất
yếu nhằm nâng cao năng suất, chuẩn hóa chất lượng sản phẩm và phát triển bền vững.
Song song với quá trình đó, việc đảm bảo an toàn thông tin trên không gian mạng
là yêu cầu xuyên suốt.

“Thay vì e ngại trước những rủi ro trên không gian mạng,
chúng ta cần chủ động nhận diện để có các phương án phòng ngừa phù hợp, giúp hợp
tác xã và các thành viên tự tin giao dịch, phát triển thương mại điện tử, cũng
như có kỹ năng ứng xử với các tình huống phát sinh trên môi trường mạng”, ông Thái nêu quan điểm.
TS Phùng Giang Hải (Viện Chiến lược Chính sách Nông nghiệp và Môi trường) nhận định:
Dù xuất khẩu nông sản tăng trưởng tích cực và tỷ lệ sản phẩm tham gia liên kết
đạt hơn 31% vào năm 2025, mức độ chuyển đổi số vẫn còn ở giai đoạn đầu, chủ yếu
dừng ở các công cụ cơ bản như mã QR, mã vạch.

Chuỗi cung ứng
nông sản thông minh là hệ thống kết nối từ sản xuất đến tiêu dùng, được tối ưu
bằng công nghệ số, cho phép thu thập dữ liệu thời gian thực, dự báo thị trường,
tối ưu vận hành và truy xuất nguồn gốc. Các công nghệ cốt lõi gồm IoT, Big
Data, AI, Blockchain và thương mại điện tử.
Để
thúc đẩy phát triển, ông Hải đề xuất khung chuỗi cung ứng nông sản
thông minh gồm 4 lớp: (1) sản xuất ứng dụng công nghệ nâng cao năng suất; (2)
dữ liệu với hệ thống dùng chung phục vụ quản lý, dự báo; (3) logistics cho vận
chuyển, chế biến, bảo quản; và (4) thị trường tiêu thụ thông qua nền tảng số và
thương mại điện tử.
HỢP TÁC XÃ DỄ BỊ LỪA ĐẢO MẠNG
Ông Trịnh Anh Tuấn, đại diện Viện Khoa học Kinh tế Hợp
tác, cho biết chuyển đổi số trong khu vực hợp tác xã vẫn diễn ra chậm, thiếu đồng
bộ và chưa gắn với yêu cầu bảo đảm an toàn, an ninh mạng. Khảo sát tại 200 hợp
tác xã và hơn 1.000 thành viên ở 30 tỉnh, thành phố cho thấy mức độ ứng dụng số
còn thấp. Các hoạt động như tiếp thị điện tử, thương mại điện tử và vận hành trực
tuyến chỉ đạt 1,18–1,45/5 điểm, phản ánh giai đoạn chuyển đổi sơ khai. Những trụ
cột quan trọng như trải nghiệm khách hàng (25,2%), vận hành (25,1%) và dữ liệu
(28,0%) đều ở mức hạn chế.

Theo ông Tuấn, hai nút thắt lớn nhất là hạ tầng và nhân lực.
Nhiều hợp tác xã chưa có nền tảng quản trị phù hợp, thiếu hệ thống dữ liệu tập
trung, vẫn vận hành thủ công. Trong khi đó, tỷ lệ nhân lực được đào tạo công
nghệ thông tin rất thấp (khoảng 1,08/5), dù khả năng sử dụng điện thoại thông
minh khá cao (4,67/5), cho thấy tiềm năng tiếp cận có nhưng thiếu kỹ năng ứng dụng.
Đáng chú ý, yếu tố an toàn thông tin gần như bị bỏ ngỏ.
Phần lớn hợp tác xã chưa có quy chế bảo mật, chưa xây dựng quy trình sao lưu dữ
liệu, thiếu các biện pháp cơ bản như phân quyền truy cập hay xác thực đa yếu tố.
Điều này làm gia tăng rủi ro lừa đảo trực tuyến, chiếm đoạt tài khoản và rò rỉ
dữ liệu.
Trước thực trạng này, ông Tuấn khuyến nghị cần xây dựng
chương trình chuyển đổi số riêng cho hợp tác xã, tích hợp an toàn thông tin
ngay từ đầu; đồng thời ban hành bộ tiêu chuẩn tối thiểu, có cơ chế hỗ trợ tài
chính và phát triển các nền tảng số dùng chung theo nguyên tắc “an toàn theo mặc
định”.

Trình bày về các hình thức lừa đảo, chiếm đoạt tài sản
trên môi trường số và các giải pháp phòng ngừa tại toạ đàm, ông Nguyễn Tiến
Dũng, chuyên gia của Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ
cao (Cục A05) – Bộ Công an, cho biết hoạt động lừa đảo trên không gian mạng thời
gian qua diễn biến ngày càng phức tạp, gây thiệt hại lớn về kinh tế và tạo bức
xúc trong dư luận.
Theo thống kê của Bộ Công an, hiện có 21 phương thức, thủ đoạn
lừa đảo phổ biến. Riêng năm 2024, tổng thiệt hại do lừa đảo trực tuyến ước tính
lên tới gần 20.000 tỷ đồng. Sau khi triển khai đồng bộ các biện pháp tuyên truyền,
đấu tranh và xử lý, trong đó có việc triệt phá các ổ nhóm tội phạm xuyên biên
giới, tình hình đã có chuyển biến tích cực khi năm 2025 số vụ việc giảm 30,3%
so với năm trước.
Đối với doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực hợp tác xã, ông
Dũng nhấn mạnh hai phương thức lừa đảo phổ biến nhất.
Thứ nhất: Phát tán mã độc
nhằm vào hệ thống quản trị, điều hành. Các đối tượng thường gửi email hoặc đường
link chứa mã độc, khi người dùng vô tình nhấp vào, hệ thống sẽ bị xâm nhập.
Đáng chú ý, mã độc hiện nay có thể tích hợp công nghệ AI, có khả năng vượt qua
các lớp bảo mật như tường lửa hay phần mềm diệt virus.
Thứ hai: Phát tán mã độc qua các đường link trên không
gian mạng. Các đối tượng thường lợi dụng nội dung giật gân, đánh vào tâm lý tò
mò để dụ người dùng truy cập. Khi đó, thiết bị sẽ bị nhiễm mã độc và bị đánh cắp
thông tin. Mục tiêu của các đối tượng là thu thập dữ liệu nội bộ, phục vụ lừa đảo
chiếm đoạt tài sản hoặc thực hiện hành vi phá hoại, tống tiền. Một thủ đoạn phổ
biến là chiếm quyền email, Facebook hoặc Zalo của doanh nghiệp, sau đó gửi
thông tin tài khoản giả mạo để yêu cầu chuyển trả tiền hàng hóa.
Do thông tin tài
khoản hiển thị gần giống với tên của đối tác thật, nhiều hợp tác xã đã bị lừa
chuyển tiền, và khi phát hiện thì tiền đã bị chuyển ra nước ngoài, rất khó thu
hồi”.
Ngoài ra, các đối tượng còn sử dụng hình thức tấn công mã
hóa dữ liệu để tống tiền. Khi xâm nhập được hệ thống, chúng sẽ khóa toàn bộ dữ
liệu và yêu cầu trả tiền chuộc, nếu không doanh nghiệp có thể mất toàn bộ thông
tin quan trọng.
Để phòng ngừa, ông Dũng khuyến nghị ba nguyên tắc cơ bản:
không nhấp vào đường link hoặc tệp tin không rõ nguồn gốc; không cài đặt phần mềm
chưa được kiểm chứng; và khi có dấu hiệu nghi ngờ cần cách ly thiết bị khỏi mạng,
đồng thời báo cơ quan chức năng. Bên cạnh đó, các đơn vị cần xây dựng quy trình
quản lý hệ thống mạng chặt chẽ, hạn chế sử dụng USB không rõ nguồn gốc và không
soạn thảo tài liệu mật trên máy tính kết nối internet.
Ông Dũng cũng lưu ý, ngay cả
khi đã ngắt kết nối mạng, nếu thiết bị nhiễm mã độc thì dữ liệu vẫn có thể bị
thu thập và sẽ bị gửi ra ngoài khi kết nối lại. Vì vậy, việc đầu tư hạ tầng và
xây dựng lực lượng chuyên trách về an ninh mạng là yêu cầu cấp thiết nhằm giảm
thiểu rủi ro.
-Chu Khôi




