Sau khi công bố số liệu lạm phát năm 2025, nhiều ý kiến, kể cả từ một số chuyên gia, đã đánh giá đây là một “tin vui kép”, một diễn biến đáng chú ý và đồng thời đặt ra những cảnh báo về xu hướng lạm phát trong thời gian tới. Vậy thực chất diễn biến lạm phát năm 2025 phản ánh điều gì và hàm ý chính sách ra sao?
Năm 2025, kinh tế thế giới có nhiều bất ổn, xung đột địa
chính trị kéo dài, thiên tai cực đoan gia tăng và chủ nghĩa bảo hộ thương mại
trỗi dậy. Giữa những biến động ấy, kinh tế Việt Nam vẫn bứt phá mạnh mẽ, đạt
mức tăng trưởng 8,02%, đạt mục tiêu của Quốc hội và Chính phủ đề ra, lạm phát
được kiểm soát hiệu quả, với CPI bình quân cả năm tăng 3,31%, thấp hơn mục
tiêu Quốc hội đề ra và phản ánh sự ổn định vĩ mô.
TIN VUI KÉP VỀ LẠM PHÁT
“Tin vui kép” về lạm phát năm 2025 được nhận diện dưới các
góc độ khác nhau.
Thứ nhất, thông qua việc so sánh lạm phát năm 2025 với các
con số tương ứng trong nhiều năm trước tính từ năm 2010 đến 2024 (biểu đồ 1).
Trong 16 năm gần đây, mức lạm phát năm 2025 thấp hơn 8 năm,
trong đó có năm 2024 là năm liền trước. Xét trong 12 năm gần nhất, lạm phát năm
2025 cũng thấp hơn 4 năm. Mức lạm phát thấp trong năm 2025 có ý nghĩa quan trọng
trên nhiều phương diện.
Lạm phát được kiểm soát cho thấy sự mất giá của đồng tiền Việt
Nam ở mức hợp lý, góp phần cải thiện mức sống thực tế của người dân. Đồng thời,
môi trường lạm phát thấp và ổn định là yếu tố quan trọng để thu hút các dòng vốn
đầu tư trực tiếp (FDI), đầu tư gián tiếp (FII), vốn hỗ trợ phát triển chính thức
(ODA) và kiều hối; thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa; cũng như thu hút
khách quốc tế đến Việt Nam.
Lạm phát thấp tạo dư địa thuận lợi cho điều hành chính sách
kinh tế vĩ mô, cho phép các nhà hoạch định chính sách cân nhắc nới lỏng chính
sách tài khóa (thông qua các biện pháp kích cầu tiêu dùng) và chính sách tiền tệ
(thông qua mở rộng tổng phương tiện thanh toán, tăng trưởng tín dụng…), nhằm hỗ
trợ tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh nhu cầu trong nước và thế giới biến động.
Thứ hai, lạm phát thấp không chỉ có ý nghĩa chung đối với
người tiêu dùng – chủ thể đông đảo nhất trên thị trường – mà còn đặc biệt có ý
nghĩa đối với nhóm thu nhập thấp. So sánh tốc độ tăng giá bình quân năm 2025 với
năm 2024 cho thấy, trong 13 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính trong “rổ” tính CPI,
có 8 nhóm có tốc độ tăng giá bình quân năm 2025 thấp hơn năm trước. Điều này
góp phần giảm áp lực chi phí sinh hoạt đối với các nhóm dân cư dễ bị tổn thương
trước biến động giá cả.
Cụ thể, trong 13 nhóm hàng hóa và dịch vụ, có 8 nhóm có tốc
độ tăng giá bình quân năm 2025 thấp hơn năm 2024, bao gồm: lương thực tăng
0,17% so với mức tăng 12,19% của năm trước; ăn uống ngoài gia đình tăng 3,61%
so với 3,99%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,21% so với 2,42%; may mặc, mũ nón,
giày dép tăng 1,3% so với 1,4%; giao thông giảm 2,14% so với mức tăng 0,76%;
giáo dục tăng 2,15% so với 5,37%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,78% so với
6,56%.
Đây đều là những nhóm hàng hóa, dịch vụ thiết yếu mà người
có thu nhập thấp sử dụng với tỷ trọng lớn, nên mức tăng giá thấp hơn năm trước
đã góp phần giảm bớt áp lực chi tiêu và cải thiện tương đối đời sống của nhóm
dân cư dễ bị tổn thương này.
Thứ ba, lạm phát năm 2025 thực tế thấp hơn mục tiêu đề ra
(3,31% so với 4,5%) và năm 2025 là năm thứ 12 liên tục lạm phát được kiểm soát
theo mục tiêu. Đây cũng là số năm dài nhất trong hơn 40 năm sau Đổi mới, mở cửa
hội nhập từ năm 1986.
Thứ tư, trong khi tốc độ tăng GDP năm 2025 đạt 8,02%, vượt mục
tiêu đề ra, thì lạm phát cũng thấp hơn mục tiêu đề ra. Đó là “kết quả kép”,
cũng là “tin vui kép”, khi tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn mục tiêu thì lạm phát
lại thấp hơn mục tiêu mà không phải năm nào cũng đạt được!
Thứ năm, trong khi năm 2025 so với năm 2024, lạm phát cơ bản
tăng cao hơn (3,21% so với 2,71%), thì CPI bình quân năm lại tăng thấp hơn
(3,31% so với 3,63%). Điều đó chứng tỏ yếu tố chi phí đẩy, yếu tố tiền tệ nới lỏng
đối với giá cả hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng, đối với lạm phát chưa lớn, đã bị “cản
lại” trước khi gây sức ép đối với lạm phát.
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LẠM PHÁT
Thông tin về lạm phát năm 2025 được xem là “lạ” đến mức khiến
không ít người, kể cả một số chuyên gia, đặt câu hỏi: lạm phát đã “chạy đi
đâu”? Cái “lạ” của lạm phát năm 2025 thể hiện khi nhìn lại các yếu tố tác động
đến lạm phát trong bối cảnh kinh tế vĩ mô, đặc biệt là từ phía tổng cầu sử dụng
GDP.
Yếu tố sử dụng GDP
Tích lũy tài sản: là một thành tố quan trọng của tổng cầu sử
dụng trong nước và là tiền đề của vốn đầu tư phát triển toàn xã hội – yếu tố
thường tạo áp lực tăng giá trong nền kinh tế.
Tốc độ tăng tích lũy tài sản và tốc độ tăng GDP (tính theo
giá so sánh) trong một số năm gần đây được thể hiện tại biểu đồ 2.
Trong 7 năm gần đây, có 5 năm tốc độ tăng tích lũy tài sản
cao hơn tốc độ tăng GDP. Đáng chú ý, năm 2025 là năm có tốc độ tăng tích lũy
tài sản cao nhất trong giai đoạn này, cho thấy động lực đầu tư và mở rộng năng
lực sản xuất vẫn được duy trì mạnh mẽ.
Tốc độ tăng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trong 7 năm
qua chỉ có 2 năm cao hơn tốc độ tăng GDP, song tỷ lệ vốn đầu tư phát triển/GDP
luôn cao hơn tỷ lệ tích lũy tài sản/GDP (Biểu đồ 3). Điều này phản ánh quy mô đầu
tư của nền kinh tế duy trì ở mức cao, đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng
dài hạn, nhưng cũng là yếu tố thường tạo áp lực lên lạm phát từ phía cầu.
Duy trì đầu tư liên tục khó hơn so với tích lũy tài sản,
trong khi đầu tư thường là một trong những yếu tố tạo áp lực tăng lạm phát từ
phía cầu. Tuy nhiên, thực tế lạm phát năm 2025 lại ở mức thấp hơn kỳ vọng, phản
ánh sự tồn tại của những yếu tố kìm hãm giá cả.
Tiêu dùng cuối cùng (tính theo giá thực tế): có tỷ lệ/GDP lớn
gấp trên 2 lần tỷ lệ tích lũy tài sản/GDP. Tuy nhiên, từ sau đại dịch Covid-19,
tỷ lệ này có xu hướng giảm xuống do tâm lý “tích cốc phòng cơ”, thậm chí “thắt
lưng buộc bụng”, xuất hiện trong đại dịch và còn kéo dài sang các năm sau đó. Nếu
tính theo giá so sánh, tốc độ tăng tiêu dùng cuối cùng năm 2025 đạt 7,95%, mức
cao nhất so với nhiều năm trước, cho thấy nhu cầu tiêu dùng đã phục hồi mạnh về
lượng, dù áp lực tăng giá chưa lớn.
Tốc độ tăng giá bình quân năm của một số nhóm hàng hóa, dịch
vụ tiêu dùng năm 2025 thấp hơn tốc độ tăng tương ứng của năm trước, như: ăn uống
ngoài gia đình (tăng 3,61% so với 2,70%); nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu
xây dựng (6,08% so với 5,30%); thiết bị và đồ dùng gia đình (1,66% so với
1,27%); thuốc và dịch vụ y tế (13,07% so với 7,16%);…
Sự “lạ” của lạm phát năm 2025, xét từ phía sử dụng GDP, có
thể lý giải thông qua một số trạng thái đáng lưu ý diễn ra trong thời gian qua.
Tính theo giá thực tế, tỷ trọng sử dụng GDP trong nước (bao gồm tích lũy tài sản
và tiêu dùng cuối cùng) trong năm qua ở mức thấp và ước tính năm 2025 vẫn thấp
hơn GDP sản xuất tính theo giá thực tế (Biểu đồ 4). Điều này hàm ý một phần sản
lượng được dành cho xuất khẩu hoặc tích lũy dưới dạng hàng tồn kho, qua đó làm
giảm áp lực lạm phát từ phía cầu trong nước.
Theo đó, tỷ trọng tích lũy tài sản, tỷ trọng tiêu dùng cuối
cùng và tỷ trọng tổng sử dụng GDP trong nước có xu hướng giảm qua các năm; tổng
sử dụng GDP trong nước thậm chí thấp hơn GDP sản xuất. Điều này cho thấy tổng cầu
nội địa còn yếu, trong khi tăng trưởng GDP chủ yếu dựa vào khu vực đối ngoại…
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Kinh tế Việt Nam Thế giới 2025 – 2026 phát hành ngày 19/03/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/kinh-te-viet-nam-va-the-gioi-2025-2026.html

-Minh Đức




