Chính sách giảm thuế nhập khẩu một số mặt hàng xăng dầu về 0% được kéo dài đến 30/6/2026, đồng thời đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực này, nhằm góp phần ổn định nguồn cung, mặt bằng giá…
Chính phủ vừa ban hành các nghị quyết liên quan đến điều hành thị trường xăng dầu, trong đó liên quan đến kéo dài chính sách thuế nhập khẩu ưu đãi; đồng thời đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực này.
KÉO DÀI VIỆC GIẢM THUẾ NHẬP KHẨU
Ngày 30/4/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 25/2026/NQ-CP về việc kéo
dài thời hạn áp dụng Nghị định số 72/2026/NĐ-CP ngày 9/3/2026, liên quan đến
điều chỉnh mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng xăng,
dầu và nguyên liệu sản xuất xăng, dầu trong Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi ban hành
kèm theo Nghị định số 26/2023/NĐ-CP ngày 31/5/2023.
Trước đó, ngày 9/3/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 72/2026/NĐ-CP, trong đó điều chỉnh mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng xăng, dầu và nguyên liệu sản xuất xăng, dầu xuống 0%, áp dụng đến hết ngày 30/4/2026.
Theo nội dung Nghị quyết 25, thời hạn áp
dụng của Nghị định số 72/2026/NĐ-CP được kéo dài thêm hai tháng, đến hết ngày
30/6/2026. Việc kéo dài này nhằm duy trì hiệu lực của chính sách thuế nhập khẩu
ưu đãi ở mức 0% đối với các nhóm mặt hàng đã được quy định trước đó.
Cụ thể, mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi 0%
tiếp tục được áp dụng đối với một số mặt hàng nguyên liệu sản xuất xăng, dầu
thuộc các mã hàng 2710.19.20 (dầu thô đã tách phần nhẹ), 2710.19.89 (dầu trung
khác và các chế phẩm) và 2711.19.00 (loại khác). Đây là các nhóm nguyên liệu
đầu vào quan trọng trong quá trình sản xuất, pha chế xăng, dầu.
Nghị quyết số 25 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/5/2026 đến hết ngày 30/6/2026. Kể từ ngày 1/7/2026, mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với các mặt hàng xăng, dầu và nguyên liệu sản xuất xăng, dầu nêu trên sẽ thực hiện theo quy định tại Nghị định số 26/2023/NĐ-CP.
Trong thời gian Nghị quyết có hiệu lực, trường
hợp có sự khác nhau giữa quy định tại Nghị quyết 25 này với Nghị định 26 và các nghị định sửa đổi, bổ sung (nếu có) về mức thuế suất thuế
nhập khẩu ưu đãi đối với các mặt hàng xăng, dầu và nguyên liệu sản xuất xăng,
dầu, thì thực hiện theo quy định tại Nghị quyết số 25/2026/NQ-CP.
Theo Bộ Tài chính, việc kéo dài thời hạn áp dụng Nghị định số 72/2026/NĐ-CP
và tiếp tục áp dụng mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi 0% đối với một số mặt
hàng nguyên liệu sản xuất xăng, dầu nhằm góp phần ổn định thị trường xăng, dầu
trong nước, trong bối cảnh tình hình thế giới vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố khó
lường, có thể ảnh hưởng đến nguồn cung và giá cả năng lượng.
Bên cạnh đó, chính sách này còn nhằm bảo đảm
an ninh năng lượng quốc gia, đồng thời hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô, qua đó góp
phần thực hiện các mục tiêu tăng trưởng kinh tế đã đề ra. Đồng thời, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô để góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế; đảm bảo tuân thủ đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành theo quy định của pháp luật.
ĐƠN GIẢN HÓA, CẮT GIẢM NHIỀU THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
Trong bối cảnh thị trường năng lượng toàn cầu còn biến động do yếu tố địa chính trị và gián đoạn nguồn cung, nhu cầu xăng dầu diễn biến khó lường, gây áp lực lên nguồn cung và mặt bằng giá trong nước, đòi hỏi điều hành linh hoạt hơn cùng các giải pháp chính sách, thủ tục kịp thời.
Mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 19/2026/NQ-CP về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương.
Theo đó, Nghị quyết quy định việc phân cấp, cắt giảm và đơn giản hóa
thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong 10 lĩnh vực thuộc phạm vi quản
lý của Bộ Công Thương, gồm: hóa chất; điện lực; thuốc lá; xăng dầu; thương mại
điện tử; thương mại quốc tế; xuất nhập khẩu; xúc tiến thương mại; hoạt động sở
giao dịch hàng hóa và công nghiệp địa phương.

Về điều kiện kinh doanh, Nghị quyết cắt giảm một số nội dung tại các Điều 7, 13, 19, 22 và 24 của Nghị định 83/2014/NĐ-CP.
Đối với thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu, cần có cầu
cảng chuyên dụng bảo đảm tiếp nhận được tàu chở xăng dầu hoặc phương tiện vận tải
xăng dầu khác có trọng tải tối thiểu 7.000 tấn, thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc
đồng sở hữu hoặc thuê sử dụng từ 5 năm trở lên; có kho tiếp nhận xăng dầu nhập
khẩu dung tích tối thiểu 15.000 m3 để trực tiếp nhận xăng dầu từ tàu chở xăng dầu
và phương tiện vận tải xăng dầu chuyên dụng khác, thuộc sở hữu của doanh nghiệp
hoặc thuê từ 5 năm trở lên.
Có hệ thống phân phối xăng dầu với tối thiểu 10 cửa hàng bán
lẻ, trong đó có ít nhất 5 cửa hàng thuộc sở hữu của doanh nghiệp; tối thiểu 40
tổng đại lý kinh doanh xăng dầu hoặc đại lý bán lẻ xăng dầu hoặc thương nhân nhận
quyền bán lẻ xăng dầu thuộc hệ thống phân phối của thương nhân.
Thương nhân đầu mối kinh doanh nhiên liệu hàng không không bắt
buộc phải có hệ thống phân phối như quy định tại khoản 5 điều 7 Nghị định 83.
Đối với thương nhân phân phối xăng dầu, phải có hệ thống
phân phối tối thiểu 5 cửa hàng bán lẻ xăng dầu thuộc sở hữu hoặc thuê với thời
hạn thuê từ 5 năm trở lên, trong đó có ít nhất 3 cửa hàng thuộc sở hữu; tối thiểu
10 cửa hàng bán lẻ xăng dầu thuộc các đại lý hoặc thương nhân nhận quyền bán lẻ
xăng dầu được cấp giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu.
Đối với đại lý bán lẻ hoặc thương nhân nhận quyền chỉ cần có
cửa hàng đủ điều kiện theo quy định. Cửa hàng bán lẻ xăng dầu phải thuộc sở hữu
hoặc thuê tối thiểu 5 năm của thương nhân kinh doanh xăng dầu và đứng tên trên
giấy chứng nhận đủ điều kiện.
Đồng thời, cửa hàng phải được thiết kế, xây dựng, trang bị
theo quy chuẩn kỹ thuật, bảo đảm yêu cầu về phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ môi
trường. Đáng chú ý, quy định mới cũng bãi bỏ điều kiện kinh doanh dịch vụ cho
thuê cảng, kho tiếp nhận và vận tải xăng dầu.
Nghị quyết 19 cũng bãi bỏ điều kiện kinh doanh dịch vụ cho
thuê cảng, kho tiếp nhận xăng dầu theo quy định tại điều 27; điều kiện kinh
doanh dịch vụ vận tải xăng dầu quy định tại điều 28 của Nghị định 83.
Nghị quyết số 19/2026/NQ-CP có hiệu lực từ ngày 29/4/2026. Riêng Điều 3 và Phụ lục I có hiệu lực sau 30 ngày kể từ ngày Nghị quyết có hiệu lực.
Nghị quyết hết hiệu lực kể từ ngày 01/3/2027, trừ trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành hoặc có hiệu lực trước thời điểm này có quy định liên quan đến thẩm quyền quản lý nhà nước, điều kiện kinh doanh, trình tự, thủ tục tương ứng, thì các quy định tại Nghị quyết sẽ hết hiệu lực tại thời điểm các văn bản đó có hiệu lực.
-Minh Huy




