Tiền góp mua đất hay tiền gửi nhờ?
Theo trình bày của bà L., năm 2003, bà cùng vợ chồng ông H. (cùng ngụ Đà Nẵng) góp tiền để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 108m2. Tổng giá trị thửa đất là 19 triệu đồng, trong đó bà L. góp 9,8 triệu đồng.
Tuy nhiên, năm 2013, thửa đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) đứng tên vợ chồng ông H. Bà L. nhiều lần yêu cầu chia một nửa giá trị thửa đất nhưng vợ chồng ông H. không thực hiện.
Do đó, bà L. đã khiếu nại đến chính quyền địa phương. Tại buổi làm việc, vợ chồng ông H. chỉ đồng ý trả cho bà L. số tiền 100 triệu đồng.
Cho rằng quyền lợi của mình không được bảo đảm, bà L. đã khởi kiện, yêu cầu tòa án buộc vợ chồng ông H. phải trả cho bà một nửa diện tích đất hoặc số tiền 200 triệu đồng tương ứng theo giá thị trường. Tại phiên tòa, bà L. nâng yêu cầu thanh toán lên 915 triệu đồng, tương ứng một nửa giá trị lô đất được định giá 1,83 tỷ đồng.

Về phía bị đơn, vợ chồng ông H. cho rằng không có việc góp tiền mua đất. Theo vợ ông H., vợ chồng bà đã mua thửa đất từ năm 2000 với giá 41 triệu đồng và sau đó cải tạo, xây dựng nhà ở. Số tiền 9,8 triệu đồng bà L. đưa chỉ là khoản gửi nhờ, dự kiến khi bán nhà sẽ hoàn trả 20 triệu đồng.
Vợ ông H. cho rằng từ năm 2005 đến 2017 hai bên đã nhiều lần thanh toán qua lại, còn giữ tổng cộng 9,2 triệu đồng của bà L. Do thời gian giữ tiền kéo dài, vợ chồng ông H. tự nguyện hoàn trả 100 triệu đồng nhưng không đồng ý chia quyền sử dụng đất.
Kết quả định giá xác định thửa đất diện tích 108m2 có giá trị 1,83 tỷ đồng. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử nhận định không có căn cứ chứng minh việc góp vốn mua đất chung giữa các bên.
Thiếu căn cứ pháp lý về việc góp vốn
Tại bản án sơ thẩm ngày 21/9/2024, TAND quận Liên Chiểu (nay là TAND khu vực 4 – Đà Nẵng) đã bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L. về việc chia một nửa giá trị quyền sử dụng thửa đất 108m2. Tòa ghi nhận sự tự nguyện của vợ chồng ông H. trong việc hoàn trả cho bà L. số tiền 100 triệu đồng.
Không đồng ý với phán quyết trên, bà L. kháng cáo, cho rằng khoản tiền 9,8 triệu đồng là tiền góp mua đất. Đồng thời, bà cho rằng mức hoàn trả 100 triệu đồng không tương xứng với giá trị thực tế của phần đất mà bà yêu cầu, nên đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
Tại phiên tòa phúc thẩm, hội đồng xét xử nhận định không có cơ sở xem xét kháng cáo của bà L. Dù cho rằng đã góp tiền mua chung đất, bà L. không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh quan hệ đồng sở hữu.
Trong khi đó, hồ sơ do cơ quan đăng ký đất đai cung cấp thể hiện quyền sử dụng thửa đất 108m2 có nguồn gốc từ hợp đồng chuyển nhượng năm 2000 giữa vợ chồng ông H. với bên bán, sau đó được cấp sổ đỏ năm 2013 đứng tên hai người.
Nội dung vi bằng đối thoại do bà L. cung cấp cũng không thể hiện việc vợ chồng ông H. thừa nhận mua đất chung. Bà L. không yêu cầu giám định chữ ký trong hợp đồng chuyển nhượng, đồng thời các dữ kiện về thời điểm, giá mua không phù hợp với lời khai của bà.
Đối với khoản tiền 9,2 triệu đồng mà bà L. gửi từ năm 2004, tòa ghi nhận sự tự nguyện của vợ chồng ông H. hoàn trả 100 triệu đồng để bù trượt giá. Trên cơ sở đó, TAND TP Đà Nẵng quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L.

Mua thửa đất trị giá 157 tỷ đồng nhưng mới thanh toán một phần, bên mua lập thêm hợp đồng vay 100 tỷ đồng với chính bên bán để hoàn tất thủ tục sang tên. Sau khi đứng tên trên sổ đỏ, bên mua đã mang tài sản này thế chấp tại ngân hàng.

Sau khi chồng qua đời, dù các bên đã đạt thỏa thuận phân chia di sản, người con dâu vẫn khởi kiện yêu cầu phân chia quyền sử dụng hơn 300m2 nhà đất tại Hà Nội.

Hai bên thống nhất giá mua bán thửa đất gần 6 tỷ đồng, nhưng khi ký hợp đồng đặt cọc công chứng thì chỉ ghi 1 tỷ đồng. Giao dịch không thành và tranh chấp nổ ra vì số tiền đặt cọc để ngoài hợp đồng.




