Trong bối cảnh thương mại toàn cầu chuyển dịch mạnh sang số hóa, các nền tảng số B2B đang dần trở thành “đường băng” mới giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường và nâng cao hiệu quả kết nối giao thương…
Với quy mô hơn 1 triệu doanh nghiệp và độ mở kinh tế thuộc nhóm cao, hoạt động giao thương của Việt Nam đang đứng trước cả cơ hội mở rộng lẫn áp lực cạnh tranh gia tăng. Trong bối cảnh đó, xúc tiến thương mại truyền thống vẫn giữ vai trò nhất định, song việc chuyển dịch sang xúc tiến trên nền tảng số đang dần trở thành “đòn bẩy” quan trọng để nâng cao hiệu quả và tạo dư địa tăng trưởng mới.
XU HƯỚNG SỐ HÓA B2B MỞ RA
KHÔNG GIAN GIAO THƯƠNG MỚI
Theo ông Cao Xuân Thắng,
Tham tán Thương mại Việt Nam tại Singapore, từ năm 2020 đến nay, thương mại điện
tử toàn cầu đã ghi nhận sự tăng trưởng bùng nổ. Dự báo đến năm 2025, quy mô
giao dịch ước đạt khoảng 6.500 – 6.800 tỷ USD, chiếm khoảng 20% tổng doanh số bán
lẻ toàn cầu với tốc độ tăng trưởng duy trì ở mức 8%/năm.
Đáng chú ý, phân khúc B2B (doanh nghiệp với
doanh nghiệp) đang chiếm tới 80% tổng giá trị giao dịch số. Dù số lượng giao dịch
có thể thấp hơn mô hình B2C (doanh nghiệp với người tiêu dùng), nhưng giá trị hợp đồng lại rất lớn. Đến năm 2030,
quy mô thương mại B2B toàn cầu có thể chạm mốc 60.000 tỷ USD.
Năm 2025, thương mại giữa
Việt Nam và Singapore đạt khoảng 40 tỷ SGD. Riêng lĩnh vực thương mại điện tử,
quy mô thị trường Singapore năm 2025 ước đạt khoảng 26 tỷ USD. Đáng lưu ý,
Singapore không chỉ là thị trường tiêu dùng mà còn là một “hub” của khu vực và
toàn cầu, đây là yếu tố quan trọng đối với doanh nghiệp Việt Nam.
Các nền tảng thương mại
điện tử B2B đang chuyển nhanh từ vai trò kết nối cung – cầu sang trở thành hạ tầng
giao thương số toàn diện. Khác với B2C, B2B tập trung vào giao dịch giá trị lớn,
quy trình phức tạp và tích hợp nhiều dịch vụ như logistics, thanh toán, pháp
lý.
Xu hướng nổi bật là ứng dụng
dữ liệu lớn và AI để phân tích thị trường, gợi ý đối tác và tối ưu giao dịch. Đồng
thời, các nền tảng này phát triển theo mô hình hệ sinh thái, giúp doanh nghiệp
quản lý toàn bộ chuỗi giao dịch trên một nền tảng, qua đó giảm chi phí và mở rộng
thị trường.

“Các nền tảng số cần được xây dựng dựa trên nhu cầu của doanh nghiệp, thay vì chỉ dựa trên khả năng công nghệ. Công nghệ hiện nay đã sẵn sàng, vấn đề nằm ở khả năng tiếp cận và vận hành của người dùng. Giai đoạn đầu có thể gặp khó khăn, tương tự như khi doanh nghiệp áp dụng các tiêu chuẩn như ISO, nhưng khi đã quen và thấy được hiệu quả, mức độ tham gia sẽ tăng lên. Song song đó, các cơ chế, chính sách hỗ trợ đang được hoàn thiện đồng bộ từ trung ương đến địa phương”.
Ông Tạ Mạnh Cường, Giám đốc Trung
tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư (Cục Xúc tiến Thương mại – Bộ Công Thương),
cho biết Việt Nam hiện có khoảng 1,1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, với độ
mở nền kinh tế rất cao, quy mô xuất nhập khẩu đã vào top 25 thế giới. Để đáp ứng yêu cầu phát triển trong
bối cảnh mới, bên cạnh việc duy trì xúc tiến thương mại truyền thống, hoạt động
xúc tiến trên nền tảng số cần được triển khai mạnh mẽ nhằm nâng cao hiệu quả.
Định hướng này đã được cụ thể hóa
trong các nghị quyết lớn như Nghị quyết 52 về khoa học công nghệ, đổi mới sáng
tạo và chuyển đổi số; Nghị quyết 66 về hoàn thiện thể chế, hỗ trợ khu vực tư
nhân; cùng với Quyết định 1968. Qua đó, phát triển thương mại trên nền tảng số
trở thành xu hướng tất yếu.
Mặt khác, ông Cường cho biết yếu tố then chốt để doanh
nghiệp tham gia xúc tiến thương mại trên nền tảng số không nằm ở truyền thông
hay đào tạo, mà ở hiệu quả thực tế.
“Doanh nghiệp cần nhìn thấy rõ khi tham gia
nền tảng sẽ đạt được gì trong một khoảng thời gian cụ thể, với các chỉ tiêu
(KPI) rõ ràng. Nếu không chứng minh được hiệu quả, nền tảng sẽ chỉ dừng lại ở
việc cung cấp thông tin, chưa tạo ra giá trị xúc tiến thương mại thực chất”, ông Tạ Mạnh Cường nhận định.
Dưới góc độ doanh nghiệp, bà Ngô
Diệu Thủy, CEO Arobid, cho biết năm 2025 ghi nhận nhiều chuyển biến tích
cực trong thương mại điện tử và chuyển đổi số tại Việt Nam. Tuy nhiên, trong
bối cảnh cạnh tranh quốc tế gia tăng và biến động địa chính trị, xúc tiến
thương mại truyền thống bộc lộ hạn chế như chi phí cao, phụ thuộc di chuyển và
khó đo lường hiệu quả.
Ngược lại, các nền tảng số giúp
doanh nghiệp tiếp cận thị trường toàn cầu linh hoạt hơn, giảm chi phí và vượt
qua nhiều rào cản. Do đó, việc xây dựng hạ tầng xúc tiến thương mại số, ứng
dụng dữ liệu và AI đang trở thành xu hướng tất yếu, góp phần mở rộng thị trường
và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế số.
KIẾN
TẠO HỆ SINH THÁI GIAO THƯƠNG SỐ TOÀN DIỆN
Trong bối cảnh đó, sự
tham gia của khu vực tư nhân với các mô hình nền tảng số được xem là yếu tố
quan trọng nhằm hiện thực hóa các định hướng chính sách và nhu cầu thị trường.
Ông Phan Đình Tuệ, Phó Chủ
tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh (HUBA), cho rằng với gần 500.000 doanh nghiệp
tại TP. Hồ Chí Minh, nhu cầu về một không gian số ổn định để kết nối thực chất
là rất lớn. Việc triển khai các hoạt động triển lãm trên không gian số không chỉ
giảm chi phí mà còn tạo ra cơ hội giao dịch, ký kết hợp đồng trực tiếp.
Tuy nhiên, ông Tuệ cũng
lưu ý các nền tảng cần chú trọng tính ổn định, phát triển nguồn nhân lực và
nâng cao tiện ích kết nối để doanh nghiệp thấy rõ giá trị thực tế khi tham gia.

“Chuyển đổi số không
thể dừng ở định hướng, mà cần hạ tầng cụ thể, có công cụ vận hành và khả năng
đo lường hiệu quả, qua đó giúp doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường, kết nối
đối tác và gia tăng giá trị giao dịch một cách thực chất. Tương tự như trong nền kinh tế truyền thống, Chính phủ xây dựng sân bay và doanh nghiệp khai thác đường bay. Các nền tảng thương mại điện tử của Việt Nam như chúng tôi đang nỗ lực xây dựng “đường băng thương mại số” để doanh nghiệp cất cánh”.
Trong bối cảnh đó, ngày
20/3/2026, Công ty Cổ phần Công nghệ Arobid đã cho ra mắt Arobid Version 2.0. Đây là hạ tầng xúc tiến thương mại
và đầu tư trên môi trường số, tích hợp nền tảng thương mại điện tử B2B toàn cầu,
vận hành bởi AI.
Theo ông Trần Văn Chín, Chủ tịch HĐQT Arobid, mục
tiêu của nền tảng là tạo ra một môi trường giao thương nơi doanh nghiệp có thể
tìm kiếm đối tác, mở rộng thị trường, khai thác dịch vụ hỗ trợ trên cùng một hệ
sinh thái.
Điểm khác biệt của phiên
bản 2.0 là việc ứng dụng triệt để AI dựa trên ba nguyên tắc: AI-first,
Customer-first và System-first. Trong đó, AI không chỉ dừng lại ở việc khai thác dữ liệu
lớn để phân tích, dự báo mà còn giải quyết bài toán ngôn ngữ toàn cầu.
Trong kế hoạch năm 2026,
Arobid dự kiến vận hành 120 hội chợ, triển lãm trực tuyến, tập trung vào các
ngành hàng xuất khẩu chủ lực như nông sản, thực phẩm chế biến, gỗ nội thất, dệt
may và công nghiệp phụ trợ. Thay vì các sự kiện rời rạc, mô hình này hướng tới
“công nghiệp hóa không gian thương mại số”, tạo ra các cụm giao thương liên tục.
-Vân Nguyễn




