Ngành mía đường Việt Nam đang đối mặt với thách thức khi giá đường liên tục lao dốc, làm suy yếu chuỗi liên kết sản xuất. Nông dân trồng mía thu nhập thấp, doanh nghiệp chịu gánh nặng tài chính, còn thị trường thiếu cơ chế bảo vệ hiệu quả…
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy về thực trạng ngành mía đường hiện nay, ông Nguyễn Văn Lộc – Chủ tịch Hiệp hội Mía đường Việt Nam, bày tỏ lo ngại: “Nếu không có giải pháp kịp thời, nguy cơ đứt gãy toàn ngành là hiện hữu”.
Hiện nông dân trồng mía ở nước ta kêu giá mua mía thấp.
Ông nghĩ sao về điều này?
Ngành mía đường
Việt Nam đã từng xây dựng được chuỗi liên kết sản xuất – tiêu thụ tương đối
vững chắc, bảo đảm đầu ra cho cây mía và sinh kế của khoảng 220.000 hộ nông
dân, trong đó có nhiều hộ ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới.
Nhờ triển khai
đồng bộ các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh, từ niên vụ 2023/24 đến nay,
năng suất đường của Việt Nam đã vươn lên dẫn đầu khu vực Đông Nam Á khi so sánh
với các quốc gia sản xuất mía đường chủ lực như Thái Lan, Indonesia hay
Philippines.
Tuy nhiên, từ năm
2025 đến nay, chuỗi liên kết này đối mặt với nhiều thách thức. Hiện giá đường đã giảm hơn 3.000 đồng/kg, chỉ còn bằng 84% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, giá mua mía
tại Việt Nam vẫn dao động 1,2-1,5 triệu đồng/tấn, cao hơn khoảng 1,5 lần so với
Thái Lan.

Vụ
sản xuất 2025/26, ngành mía đường
đối diện với khó khăn chưa từng có khi lượng đường tồn kho từ niên vụ trước vẫn
lớn, gần như không có triển vọng tiêu thụ.
Hiện nay, doanh nghiệp mía đường rơi vào tình thế
“ngoài sáng, trong tối”: bề ngoài vẫn duy trì hình ảnh ổn định do áp lực niêm
yết trên thị trường chứng khoán, nhưng thực chất đang chịu gánh nặng tài chính
lớn. Nhiều doanh nghiệp dù thua lỗ vẫn phải công bố báo cáo tài chính tích cực
để tránh bị bán tháo cổ phiếu, rút vốn hoặc siết tín dụng từ ngân hàng.
Với đặc
thù phụ thuộc vốn vay lớn và chu kỳ thu hồi kéo dài, áp lực tài chính ngày càng
gia tăng, đặt ra nguy cơ đứt gãy chuỗi liên kết mía đường nếu không có giải
pháp kịp thời.
Do không tiêu thụ
được sản phẩm, các nhà máy buộc phải hạ giá thu mua mía xuống quanh mức 1 triệu
đồng/tấn. Nông dân
kêu giá mía thấp, là họ so sánh với giá mua mía những năm trước, thực tế giá
mua mía tại Việt Nam hiện nay vẫn
cao hơn so với nhiều nước trong khu vực.
Nông dân đang kêu không “sống nổi” với nghề trồng mía, thu nhập quá thấp. Ông nhận định như thế nào về vấn đề này?
Với năng suất bình
quân hiện nay, mỗi hecta mía mang lại doanh thu khoảng 68-69 triệu đồng, nhưng sau khi trừ chi phí, lợi nhuận
thực tế của người trồng chỉ còn khoảng 25-40
triệu đồng/ha. Đây là mức thu nhập rất thấp
nếu so với nhiều loại cây trồng khác như cà phê, hồ tiêu, cây ăn quả hay lúa.
Nông dân trồng mía
tại Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều khó khăn khi chi phí sản xuất ngày
càng tăng cao. Giá vật tư nông nghiệp như phân bón, giống mía và nhân công đều
cao hơn so với nhiều nước trong khu vực, khiến giá thành sản xuất bị đội lên
đáng kể. Do những bất cập trong khâu lưu thông, vận
chuyển khiến giá vật tư đến tay nông dân tiếp tục bị đẩy lên.
Tại
Thái Lan, người trồng mía được hưởng nhiều chính sách hỗ trợ từ Chính phủ, cả
trực tiếp lẫn gián tiếp, như trợ giá vật tư đầu vào, trợ giá mua mía, giúp đảm bảo lợi nhuận ổn định. Trái lại,
nông dân Việt Nam gần như hoàn toàn phụ thuộc vào giá bán mía trên thị trường,
ít nhận được hỗ trợ đáng kể từ Nhà nước, kể cả khi gặp thiên tai hay biến động
bất lợi.
Thưa ông, giá đường
Việt Nam thấp hơn giá đường các nước trong khu vực, nhưng đường nhập lậu vẫn
tràn vào, đây có phải là nghịch lý?
Giá
đường trong nước ta hiện thấp hơn so với giá bán đường ở các nước trong khu vực
Đông Nam Á. Đường từ nơi có giá bán cao “chảy sang” nơi có giá bán thấp dường
như là nghịch lý, nhưng vấn đề này đang xảy ra.
Nguyên nhân là do đường nhập lậu trốn thuế, trong khi đường sản
xuất ở nước ta lưu thông trên thị trường phải chịu thuế. Hoạt động kinh doanh đường
nhập lậu chủ yếu bằng tiền mặt, không hóa đơn, nhằm né tránh nghĩa vụ thuế,
nhất là trong bối cảnh quy định mới sẽ xóa bỏ thuế khoán đối với hộ kinh doanh
từ năm 2026.

Đường nhập lậu vào
Việt Nam được xác định chủ yếu là đường có nguồn gốc từ Thái Lan,
đi qua Campuchia và Lào trước khi thẩm lậu vào thị trường nội địa. Chính phủ Thái Lan có chính sách trợ giá đối với đường
xuất khẩu, khiến đường xuất khẩu giá thấp hơn đường bán trong nước Thái Lan.
Tại khu vực biên
giới Việt Nam – Lào,
đường lậu thường tập kết tại Dansavanh, cách cửa khẩu Lao Bảo (Quảng Trị) chỉ
khoảng 3 km; quy mô bến bãi đã tăng gấp ba lần trong vòng hai năm. Trong khi
đó, tuyến biên giới Việt Nam – Campuchia, đặc biệt tại Tây Ninh, An Giang và
Đồng Tháp, với địa hình nhiều đường mòn, kênh rạch chằng chịt, tạo điều kiện
thuận lợi cho các đối tượng vận chuyển trái phép đường cùng nhiều mặt hàng khác
vào nội địa.
Đáng chú ý, trong khi lượng đường nhập lậu gia tăng mạnh trong những năm gần đây, thì công tác kiểm tra, bắt giữ lại có xu hướng giảm. Năm 2025, lực lượng chức năng chỉ thu giữ khoảng 270 tấn đường nhập lậu, giảm mạnh so với 866,7 tấn của năm 2024. Điều này cho thấy hiệu quả kiểm soát thị trường còn nhiều hạn chế, dù Chính phủ đã liên tiếp ban hành các công điện và chỉ thị nhằm tăng cường đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại.
Đáng lo ngại hơn,
một số lô đường nhập lậu sau khi bị tịch thu lại được đưa ra đấu giá và quay
trở lại thị trường mà không đảm bảo quy định về nhãn mác, truy xuất nguồn gốc.
Những hóa đơn đơn giản ghi “đường kính trắng sản xuất tại Thái Lan” bị lợi dụng
như “giấy thông hành”, giúp hợp thức hóa nhiều loại đường không đủ điều kiện
pháp lý.
Hiệp hội Mía đường
Việt Nam có những kiến nghị cụ thể như thế nào để kiểm soát nhập lậu và đảm bảo
môi trường cạnh tranh công bằng cho ngành?
Hiện
nay, nhiều quốc gia trong khu vực
áp dụng các biện pháp bảo vệ thị trường đường rất chặt chẽ.
Tại Philippines,
đường nhập khẩu phải lưu kho và chỉ được tiêu thụ khi đường sản xuất trong nước
đã được giải phóng hết; đồng thời áp thuế tiêu thụ đặc biệt đối với đồ uống có
đường, đặc biệt là siro ngô (HFCS). Khi giá đường giảm vào cuối năm 2025, Chính
phủ Philippines đã chủ động tạm dừng nhập khẩu đến hết vụ ép mía.
Tại
Indonesia, hoạt động nhập khẩu đường được kiểm soát bằng
hệ thống cấp phép, đồng thời áp dụng thuế tự vệ đối với HFCS để bảo vệ sản xuất
trong nước.
Trái lại, thị
trường đường Việt Nam bị đánh giá là thiếu các cơ chế bảo vệ hiệu quả.
Trước
thực trạng này, Hiệp hội Mía đường Việt Nam kiến nghị cần thực hiện nghiêm các
chỉ đạo của Chính phủ về chống buôn lậu, đồng thời áp dụng các biện pháp phù
hợp với thông lệ quốc tế để kiểm soát đường nhập khẩu, đặc biệt là dòng đường
phá giá và HFCS.
Việc xử lý các “vùng cấm” trong quản lý thị trường được xem là
cần thiết nhằm khôi phục môi trường kinh doanh minh bạch, đảm bảo cạnh tranh
công bằng và duy trì sự ổn định của ngành mía đường.
-Chu Khôi




