Xung đột leo thang tại Trung Đông đang tạo ra những biến động với chuỗi cung ứng và vận tải toàn cầu, qua đó tác động nhiều mặt tới kinh tế thế giới và Việt Nam. Trong bối cảnh đó, một số yếu tố chi phí như năng lượng và logistics sẽ gây áp lực nhất định lên lạm phát, đồng thời hoạt động thương mại quốc tế có thể diễn biến thận trọng hơn trong thời gian tới…
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, ông Lê Trung Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính), cho rằng để duy trì đà tăng trưởng ổn định, cần tiếp tục phát huy vai trò của các động lực trong nước, trong đó tăng cường vai trò của vốn đầu tư công và thúc đẩy tiêu dùng nội địa để đảm bảo con tàu kinh tế không “lệch ray”.

Căng thẳng chiến sự leo
thang tại Trung Đông những ngày gần đây đã tác động tới chuỗi cung ứng và vận tải
toàn cầu. Việc chuyển hướng hải trình và tăng chi phí logistics, theo đánh giá
của ông, ảnh hưởng thế nào tới kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam tới thị
trường Trung Đông nói chung và các thị trường khác nói riêng?
Các tuyến vận tải hàng hải quan
trọng kết nối châu Á với châu Âu và Bắc Phi đi qua khu vực Biển Đỏ và Trung
Đông. Khi các tuyến này gặp rủi ro hoặc phải điều chỉnh hải trình, chi phí
logistics và thời gian vận chuyển quốc tế có thể gia tăng, qua đó tác động đến
chuỗi thương mại toàn cầu. Đối với Việt Nam, ảnh hưởng chủ yếu mang tính gián
tiếp, bởi hoạt động xuất khẩu sang các thị trường như châu Âu, châu Phi, thậm
chí một số tuyến đi Mỹ đều phụ thuộc vào hệ thống vận tải biển quốc tế. Trong
trường hợp thời gian giao hàng kéo dài, doanh nghiệp có thể phải điều chỉnh kế
hoạch sản xuất, giao nhận và quản lý tồn kho để bảo đảm tiến độ các đơn hàng.
Căng thẳng tại Trung Đông hiện
nay đã khiến giá năng lượng và chi phí vận tải quốc tế tăng, đồng thời làm tăng
rủi ro trên một số tuyến hàng hải quan trọng. Khi các tuyến vận tải đi qua khu
vực này phải điều chỉnh hải trình, thời gian giao hàng có thể kéo dài hơn và
chi phí logistics tăng lên, qua đó tạo áp lực nhất định đối với hoạt động
thương mại toàn cầu.
Đối với doanh nghiệp xuất khẩu Việt
Nam, những biến động này có thể làm tăng chi phí vận chuyển và yêu cầu doanh
nghiệp chủ động điều chỉnh kế hoạch logistics. Các ngành hàng có tỷ trọng xuất
khẩu lớn và phụ thuộc nhiều vào chuỗi cung ứng quốc tế như điện tử, dệt may, da
giày có thể chịu tác động nhất định nếu thời gian giao hàng kéo dài. Một số mặt
hàng nông sản và thủy sản cũng có thể chịu ảnh hưởng khi chi phí bảo quản và vận
chuyển lạnh tăng.
Tuy nhiên, thương mại quốc tế thường
có khả năng thích ứng khá nhanh. Doanh nghiệp và các hãng vận tải có thể điều
chỉnh tuyến vận chuyển hoặc phương thức giao nhận để hạn chế rủi ro. Ở góc độ
khác, nếu nguồn cung một số mặt hàng nông sản, thực phẩm tại khu vực Trung Đông
bị gián đoạn trong ngắn hạn, đây cũng có thể là cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam
mở rộng thị phần tại một số thị trường khác.
Vậy ở chiều nhập khẩu, điều
này tác động ra sao, thưa ông?
Căng thẳng tại khu vực Trung Đông
có thể tạo ra một số tác động nhất định đối với hoạt động nhập khẩu của Việt
Nam, không chỉ từ khu vực này mà còn lan tỏa tới nhiều thị trường khác thông
qua chuỗi cung ứng toàn cầu.
Thứ nhất, chi phí
logistics có xu hướng gia tăng, khi rủi ro trên các tuyến hàng hải quan trọng
như khu vực Trung Đông và Biển Đỏ tăng lên, một số hãng tàu có thể điều chỉnh hải
trình và áp dụng phụ phí rủi ro, chi phí vận tải và bảo hiểm hàng hóa tăng. Điều
này có thể làm chi phí nhập khẩu một số mặt hàng tăng lên, đặc biệt là các
nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất.
Thứ hai, khả năng gián đoạn
nguồn cung trong ngắn hạn đối với một số mặt hàng năng lượng và nguyên liệu đầu
vào. Trung Đông là khu vực cung cấp quan trọng đối với dầu mỏ và các sản phẩm
hóa dầu của thế giới, vì vậy những biến động tại khu vực này có thể ảnh hưởng
nhất định tới thị trường năng lượng toàn cầu.

Thứ ba, tác động lan tỏa tới
chuỗi cung ứng quốc tế. Khi các tuyến vận tải giữa châu Á với châu Âu và châu
Phi phải điều chỉnh, thời gian vận chuyển có thể kéo dài hơn, từ đó ảnh hưởng tới
tiến độ giao nhận một số nguyên liệu phục vụ sản xuất.
Thứ tư, áp lực lạm phát nhập
khẩu. Khi giá dầu, chi phí vận tải và bảo hiểm tăng, giá nhập khẩu nhiều loại
hàng hóa có thể tăng theo, biến động giá năng lượng và logistics từ xung đột
khu vực Trung Đông có thể tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất, xuất nhập
khẩu của Việt Nam trong thời gian tới.
Một trong những tác động
đáng kể từ xung đột Mỹ – Iran là sự tăng giá của dầu thô. Trong các kịch bản
giá dầu thế giới duy trì ở mức cao do chiến sự, Cục Thống kê dự báo như thế nào
về những ảnh hưởng tới chỉ số CPI trong thời gian tới, trước mắt là quý
2/2026?
Xung đột Trung Đông làm gia tăng
rủi ro gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu, khiến giá dầu thế giới tăng mạnh.
Tính đến ngày 06/3/2026, giá dầu Brent đã lên khoảng 84-85 USD/thùng và dầu WTI
khoảng 79-80 USD/thùng, tăng đáng kể so với trước khi xung đột leo thang.
Trong các kịch bản giá dầu thế giới
duy trì ở mức cao do chiến sự kéo dài, chúng tôi cho rằng giá nhiên liệu trong
nước có thể tăng tương ứng, qua đó tạo áp lực lên CPI. Theo tính toán sơ bộ của
Cục Thống kê, nếu giá dầu tăng mạnh và kéo dài, giá nhiên liệu có thể làm CPI
tăng trực tiếp khoảng 1,1-2,8 điểm phần trăm tùy theo mức độ và thời gian của
xung đột.

Cục Thống kê dự báo CPI quý
2/2026 tăng khoảng 4,0% so với cùng kỳ năm trước.
Giá xăng dầu, giá chi phí vận
tải tăng sẽ tạo sức ép lên kiểm soát lạm phát như mục tiêu đề ra như thế nào,
thưa ông? Trong bối cảnh này thì Cục Thống kê khuyến nghị như thế nào?
Giá xăng dầu, chi phí giao hàng,
chi phí vận tải, bảo hiểm tăng sẽ tạo sức ép lên kiểm soát lạm phát nhưng
mức độ tác động phụ thuộc vào diễn biến giá nhiên liệu thế giới. Trong trường hợp
giá nhiên liệu thế giới duy trì ở mức cao trong thời gian dài và chi phí vận tải
tăng, có thể làm gia tăng áp lực lạm phát chi phí đẩy, gây khó khăn cho việc thực
hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2026 Chính phủ đề ra.
Trong bối cảnh đó, chúng tôi khuyến
nghị các cơ quan quản lý tiếp tục theo dõi sát diễn biến giá năng lượng trên thị
trường thế giới; điều hành linh hoạt giá xăng dầu trong nước gắn với việc sử dụng
phù hợp các công cụ điều tiết như thuế, phí và Quỹ bình ổn giá…
Đồng thời, cần tăng cường bảo đảm
nguồn cung hàng hóa thiết yếu, kiểm soát chi phí vận tải và hạn chế các yếu tố
gây tăng giá bất hợp lý nhằm góp phần ổn định mặt bằng giá và hỗ trợ mục tiêu
kiểm soát lạm phát.
Với những ảnh hưởng như vậy,
ông nhận định như thế nào về động lực tăng trưởng từ xuất khẩu của Việt Nam
trong quý 2/2026 cũng như cả năm?
Hoạt động xuất khẩu hai tháng đầu
năm 2026 đạt khoảng 76,4 tỷ USD, tăng 18,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó
nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 68,6 tỷ USD, chiếm 89,8% tổng kim ngạch xuất
khẩu. Kết quả này cho thấy hoạt động xuất khẩu đạt mức tăng trưởng khá tích cực
trong những tháng đầu năm.
Tuy vậy, xung đột ở khu vực Trung
Đông những ngày gần đây diễn biến phức tạp, làm gia tăng chi phí vận tải và
năng lượng, đồng thời gây gián đoạn tạm thời một số tuyến vận tải quốc tế, có
khả năng ảnh hưởng đến hoạt động xuất, nhập khẩu trong ngắn hạn. Tuy nhiên, quý
1/2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa được kỳ vọng duy trì tăng trưởng, song mức
tăng có thể thấp hơn so với các dự báo trước đó.
Bước sang quý 2/2026, hoạt động
xuất, nhập khẩu tiềm ẩn nhiều rủi ro, khó dự báo. Đáng chú ý, việc Hoa Kỳ thông
báo khả năng áp dụng mức thuế quan tạm thời khoảng 15% trong thời gian 150 ngày
đối với hàng hóa nhập khẩu tuy thấp hơn so với mức 20% dự kiến trước đó nhưng vẫn
có thể tạo thêm áp lực đối với hoạt động xuất khẩu của nhiều quốc gia, trong đó
có Việt Nam. Tuy nhiên, nước ta vẫn còn một số yếu tố thuận lợi như các hiệp định
thương mại tự do (FTA) đã ký kết, chủ động đa dạng hóa và mở rộng thị trường xuất
khẩu trong thời gian qua, năng lực sản xuất ngày càng được cải thiện của các
ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.

Ở chiều ngược lại, rủi ro đối với
quý 2/2026 là khá rõ rệt, khi thương mại toàn cầu tiếp tục chịu ảnh hưởng từ
xu hướng bảo hộ, chính sách thuế quan của Mỹ, yêu cầu tiêu chuẩn xanh và kỹ thuật
ngày càng cao, đặc biệt biến động địa chính trị và chi phí logistics, năng lượng
có thể tăng khi căng thẳng ở Trung Đông kéo dài. Ngoài ra, xuất khẩu của Việt
Nam vẫn còn một số điểm nghẽn nội tại như phụ thuộc lớn vào khu vực FDI, tỷ trọng
nhập khẩu nguyên liệu đầu vào lớn.
Từ các yếu tố trên, dự báo xu hướng
xuất khẩu quý 2/2026 có khả năng không đạt mức tăng như quý 1 mà sẽ rơi vào trạng
thái “tăng trưởng thận trọng”. Xuất khẩu có thể tiếp tục duy trì tăng trưởng,
nhưng mức tăng sẽ không đồng đều giữa các nhóm hàng và thị trường. Những ngành
có triển vọng tốt hơn vẫn là nhóm công nghiệp chế biến, đặc biệt là điện tử,
máy tính, linh kiện, máy móc, hàng nông, lâm thủy sản do có khả năng tận dụng tốt
các FTA và nhu cầu thị trường quốc tế.
Trong bối cảnh này, các động lực tăng trưởng khác nên có sự điều chỉnh như thế nào để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng hai con số?
Với mục tiêu tăng trưởng kinh tế
hai con số, xuất khẩu vẫn là một trụ cột quan trọng trong bối cảnh kinh tế thế
giới còn nhiều bất ổn. Năm 2026, để đạt mục tiêu tăng trưởng đặt ra tại Nghị
quyết số 01/NQ-CP năm 2026, kim ngạch xuất khẩu năm 2026 tăng khoảng 15-16% so
với năm 2025; tương ứng đạt khoảng 560 tỷ USD; bình quân mỗi tháng xuất khẩu phải
đạt khoảng 45 tỷ USD. Đây là thách thức lớn trong bối cảnh kinh tế và thương mại
quốc tế còn nhiều biến động, đặc biệt là sức cầu thế giới, chính sách thương mại
của các đối tác lớn và chi phí đầu vào toàn cầu khó dự báo.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con
số khi xuất khẩu đang gặp lực cản lớn, Việt Nam cần chủ động chuyển trọng tâm
sang các động lực thay thế nhằm chia sẻ những khó khăn của xuất khẩu. Cụ thể:
Thứ nhất, phát huy vai trò
của đầu tư, đặc biệt là đầu tư công. Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều
biến động và hoạt động xuất khẩu có thể chịu tác động nhất định, việc đẩy nhanh
tiến độ giải ngân đầu tư công có ý nghĩa quan trọng đối với việc hỗ trợ tăng
trưởng trong nước. Trọng tâm là các dự án hạ tầng giao thông và logistics chiến
lược nhằm nâng cao năng lực kết nối, giảm chi phí vận chuyển và tạo thuận lợi
cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Bên cạnh đó, cần ưu tiên bố trí và điều
chuyển nguồn vốn cho các công trình, dự án đã hoàn tất thủ tục đầu tư, có khả
năng triển khai và giải ngân nhanh, qua đó sớm đưa nguồn lực vào nền kinh tế và
phát huy hiệu quả đầu tư. Khi các yếu tố bên ngoài còn nhiều bất định, đầu tư
công tiếp tục đóng vai trò là một động lực quan trọng của tăng trưởng, góp phần
kích thích tổng cầu, tạo việc làm và nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế
trong trung và dài hạn.
Ngoài ra, tín dụng cần tiếp tục hỗ trợ đúng trọng
tâm cho sản xuất kinh doanh, xuất khẩu, công nghiệp chế biến chế tạo, doanh
nghiệp nhỏ và vừa và các lĩnh vực có khả năng tạo giá trị tăng thêm cao, hấp thụ
vốn tốt, từ đó góp phần hỗ trợ tăng trưởng.
Thứ hai, thu hút FDI chất
lượng cao vào ngành năng lượng và bán dẫn. Trong bối cảnh xung đột khu vực
Trung Đông diễn biến phức tạp, các nhà đầu tư sẽ tìm kiếm nơi có an ninh năng
lượng ổn định. Việt Nam cần đẩy nhanh các dự án điện khí LNG và năng lượng tái
tạo để đảm bảo sản xuất không bị gián đoạn.
Thứ ba, tiếp tục kích cầu
nội địa. Việc củng cố cầu nội địa, ổn định tâm lý thị trường, hỗ trợ việc làm
và thu nhập sẽ giúp nền kinh tế giảm phụ thuộc hơn vào khu vực bên ngoài. Xem
xét kéo dài việc giảm thuế VAT 2% hoặc giảm thuế bảo vệ môi trường đối với xăng
dầu để kìm giữ giá cả, bảo vệ sức mua của hơn 100 triệu dân. Cần khơi thông
hoàn toàn các dự án pháp lý để kích hoạt dòng vốn trong dân và thúc đẩy các
ngành công nghiệp phụ trợ (thép, xi măng, nội thất).
Thứ tư, thúc đẩy đổi mới
sáng tạo, tăng cường khoa học công nghệ, chuyển đổi số… nhằm cắt giảm thủ tục
hành chính để giảm thời gian thông quan bù đắp cho thời gian vận chuyển bị kéo
dài.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số
trong năm 2026 đặt ra yêu cầu cao đối với công tác điều hành kinh tế vĩ mô
trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động. Tuy nhiên, nếu các giải
pháp được triển khai đồng bộ và hiệu quả, đặc biệt là phát huy vai trò của đầu
tư công và tiêu dùng nội địa như những động lực quan trọng của tăng trưởng, nền
kinh tế vẫn có điều kiện để duy trì đà phục hồi và tạo dư địa cho các hoạt động
xuất khẩu, nhập khẩu thích ứng dần với những biến động của môi trường bên
ngoài.
-Anh Nhi






