Bức tranh kinh tế Việt Nam trong hai tháng đầu năm 2026 cho thấy nhiều tín hiệu tích cực với sự phục hồi và mở rộng trong sản xuất, thương mại và xuất khẩu. Tuy nhiên, đằng sau những con số tăng trưởng ngắn hạn, một số rủi ro cấu trúc đang tích tụ, từ sự lệch pha trong động lực tăng trưởng, tổng cầu trong nước phục hồi chậm, đến áp lực chi phí đầu vào gia tăng. Những yếu tố này đòi hỏi sự thận trọng hơn trong việc đánh giá chất lượng phục hồi và dư địa điều hành chính sách trong thời gian tới…
Hai
tháng đầu năm, phục hồi đang hiện hữu, nhưng nền tảng của tăng trưởng vẫn chưa
thực sự vững chắc khi nhiều động lực cốt lõi chưa được củng cố. Nếu các ràng buộc
cấu trúc tiếp tục kéo dài, đà phục hồi hiện nay có thể sớm chạm trần, thu hẹp
dư địa chính sách trong các quý tới.
SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP PHỤC HỒI
Chỉ số
sản xuất toàn ngành công nghiệp 2 tháng đầu năm 2026 tăng 10,4%, cao hơn 2,9 điểm
phần trăm so với cùng kỳ năm 2025, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng
11,5%, cùng kỳ năm trước tăng 9,1%. Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) tháng 2
đạt 54,3 điểm – tháng thứ tám liên tiếp trên ngưỡng 50 điểm, phản ánh hoạt động
sản xuất tiếp tục mở rộng. Sản lượng và đơn hàng mới tăng giúp niềm tin kinh
doanh đạt mức cao nhất trong 41 tháng.
Tuy
nhiên, các doanh nghiệp ghi nhận chi phí đầu vào tăng nhanh nhất kể từ giữa năm
2022. Áp lực này đến từ giá nguyên, vật liệu, đặc biệt là giá năng lượng trong
bối cảnh eo biển Hormuz bị phong tỏa, khiến giá dầu thế giới tăng mạnh. Nếu giá
dầu tiếp tục neo ở mức cao, áp lực chi phí đẩy sẽ lan rộng sang vận tải,
logistics và hàng tiêu dùng, đẩy mặt bằng giá lên cao hơn trong các tháng tới.
Chỉ số
CPI bình quân 2 tháng đầu năm 2026 tăng 2,94% so với cùng kỳ năm trước, thấp
hơn nhiều so với mức lạm phát mục tiêu, nhưng áp lực chi phí đầu vào và giá
năng lượng đang tích tụ đủ lớn để biến rủi ro lạm phát thành thách thức trong
những tháng tới. Động lực sản xuất đang cải thiện rõ nét, nhưng áp lực chi phí
đang quay trở lại.
SỐ DOANH NGHIỆP TĂNG MẠNH, NĂNG LỰC SẢN XUẤT CÒN HẠN CHẾ
Hai
tháng đầu năm 2026, cả nước có gần 35,5 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, tăng
70,7% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký tăng 36,1%, tuy vậy vốn đăng ký
bình quân một doanh nghiệp chỉ đạt 8,8 tỷ đồng, giảm 20,3% so với cùng kỳ năm
2025.
Cấu
trúc doanh nghiệp thành lập mới cho thấy một thực tế đáng lưu ý: trong số 35,5
nghìn doanh nghiệp thành lập mới, có tới 26,8 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực
dịch vụ, chiếm 75,6%. Đáng chú ý hơn, 65,6% trong số này tập trung vào bán
buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô xe máy và lưu trú ăn uống. Điều này đồng nghĩa năng
lực sản xuất mới không tăng tương ứng; phần lớn sự gia tăng doanh nghiệp phục vụ
khâu phân phối và tiêu dùng cuối cùng.
Trong
khi đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng chỉ tăng 4,5% –
mức tăng thấp nhất trong 4 năm gần đây, thấp hơn 1,7 điểm phần trăm so với mức
tăng cùng kỳ của năm 2025 và thấp hơn 0,8 điểm phần trăm của năm 2024. Như vậy,
doanh nghiệp dịch vụ tăng mạnh trong bối cảnh sức mua của hộ gia đình cải thiện
yếu nhất trong 4 năm gần đây. Điều này đặt ra câu hỏi về tính bền vững của làn
sóng doanh nghiệp gia nhập thị trường hiện nay. Đồng thời, khi khu vực dịch vụ
mở rộng trong lúc sức mua yếu đi, rủi ro dư thừa công suất thương mại là điều
không thể xem nhẹ.
Ở chiều
ngược lại, số doanh nghiệp rút khỏi thị trường vẫn rất lớn, với 58,5 nghìn tạm
ngừng kinh doanh, hơn 10,6 nghìn chờ giải thể, gần 7,9 nghìn đã hoàn tất giải
thể. Bình quân mỗi tháng có 38,5 nghìn doanh nghiệp rút khỏi thị trường. Tổng số
doanh nghiệp gia nhập chỉ bằng 83,7% số rút khỏi thị trường.
Số
doanh nghiệp tăng nhanh nhưng năng lực sản xuất của khu vực doanh nghiệp trong
nước chưa cải thiện tương xứng.
CÁN CÂN THƯƠNG MẠI ĐẢO CHIỀU
Hai
tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hoá đạt 155,7 tỷ USD,
tăng 22,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu đạt 76,36 tỷ USD, tăng
18,3%, nhập khẩu đạt 79,34 tỷ USD tăng 26,3%. Nền kinh tế nhập siêu 2,98 tỷ
USD, cùng kỳ năm 2025 xuất siêu 1,47 tỷ USD.
Điểm
đáng lưu ý là cơ cấu xuất khẩu tiếp tục cho thấy sự phụ thuộc lớn vào khu vực
FDI. Trong tổng kim ngạch xuất khẩu 76,36 tỷ USD, khu vực trong nước chỉ đạt
15,96 tỷ USD, chiếm 20,9%, giảm 12% so với cùng kỳ năm 2025; trong khi đó, khu
vực FDI chiếm tới 79,1% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 30,1%.
Riêng
nhóm máy tính, linh kiện đạt kim ngạch 17,69 tỷ USD, chiếm 23,16% tổng kim ngạch
xuất khẩu, tăng tới 40,9% so với cùng kỳ năm trước. Điều này phản ánh tăng trưởng
xuất khẩu tiếp tục được dẫn dắt và phụ thuộc bởi một số ngành công nghệ cao,
nhưng mức độ lan tỏa sang khu vực doanh nghiệp trong nước còn hạn chế.
Xuất khẩu
tăng mạnh nhưng động lực vẫn nằm ngoài khu vực doanh nghiệp trong nước; năng lực
xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước tiếp tục suy yếu tương đối so với khu vực
FDI, tăng trưởng xuất khẩu thiếu tính tự chủ và lan tỏa.
Sự đảo
chiều cán cân thương mại hàng hoá quốc tế trong bối cảnh nhập khẩu tăng nhanh
hơn xuất khẩu cũng đặt ra yêu cầu theo dõi sát áp lực cán cân thanh toán và tỷ
giá trong thời gian tới. Đà phục hồi thương mại hàng hoá quốc tế song hành với
nhập siêu quay trở lại.
VỐN FDI DUY TRÌ ĐÀ GIẢI NGÂN
Trong
hai tháng đầu năm 2026, dòng vốn FDI có 620 dự án cấp mới với tổng số vốn đăng
ký 3,54 tỷ USD, tăng 20,2% về số dự án và 61,5% về vốn đăng ký. Tuy nhiên vốn
điều chỉnh giảm 52,3%, phản ánh xu hướng thận trọng trong mở rộng quy mô của
các dự án hiện có.
Điểm
sáng rõ nhất là vốn FDI thực hiện đạt 3,21 tỷ USD, tăng 8,8%, là mức cao nhất của
2 tháng đầu năm trong 5 năm qua. Đây là tín hiệu tích cực cho thấy dòng vốn
không chỉ dừng ở cam kết, mà đang được giải ngân thực chất.
Vốn đầu
tư công thực hiện trong hai tháng đầu năm đạt 83,5 nghìn tỷ đồng, bằng 9,4% kế
hoạch năm, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng này phản ánh nỗ lực
thúc đẩy giải ngân nhưng tiến độ chưa đủ để tạo hiệu ứng kích thích lan tỏa mạnh
trong bối cảnh cầu tiêu dùng trong nước còn yếu.
Dòng vốn
FDI đang là điểm tựa tăng trưởng, nhưng nếu đầu tư công không tăng tốc thực chất,
hiệu quả thì động lực nội sinh sẽ tiếp tục lép vế trước khu vực FDI. Thu hút
FDI là chiến lược đúng, nhưng nếu khu vực doanh nghiệp trong nước không đủ sức
tham gia sâu vào chuỗi giá trị, nền kinh tế sẽ chỉ là nơi đặt nhà máy, chứ chưa
phải là nơi tạo ra giá trị.
NGUY CƠ “BẪY” PHỤ THUỘC FDI
Đáng
chú ý, bức tranh xuất khẩu hai tháng đầu năm tiếp tục cho thấy vai trò áp đảo của
khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Trong khi kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI
tăng mạnh, chiếm 79,1% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn nền kinh tế, thì khu vực
doanh nghiệp trong nước lại suy giảm.
Sự lệch
pha này làm xuất hiện nguy cơ hình thành một “cấu trúc hai tầng” trong nền kinh
tế: khu vực FDI đóng vai trò động lực tăng trưởng và dẫn dắt xuất khẩu, trong
khi khu vực doanh nghiệp trong nước chủ yếu tham gia ở các khâu giá trị gia
tăng thấp và phục vụ thị trường trong nước. Khi liên kết giữa hai khu vực chưa
đủ mạnh, phần giá trị gia tăng giữ lại trong nền kinh tế rất hạn chế.
Trong bối
cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu biến động nhanh với các tập đoàn đa quốc gia có xu
hướng dịch chuyển sản xuất theo chu kỳ công nghệ và chiến lược địa chính trị, sự
phụ thuộc quá lớn vào khu vực FDI có thể làm gia tăng tính dễ bị tổn thương của
nền kinh tế. Chỉ cần một sự điều chỉnh chiến lược của các tập đoàn lớn hoặc biến
động thương mại quốc tế, tăng trưởng xuất khẩu và sản xuất công nghiệp trong nước
có thể chịu tác động đáng kể.
Nếu
không nhanh chóng nâng cấp năng lực doanh nghiệp trong nước và thúc đẩy liên kết
sản xuất, nền kinh tế có thể rơi vào trạng thái tăng trưởng dựa nhiều vào năng
lực sản xuất bên ngoài nhưng giá trị gia tăng giữ lại trong nước hạn chế. Thu
hút FDI là cần thiết, nhưng năng lực nội sinh của doanh nghiệp trong nước mới
là yếu tố quyết định độ bền vững của tăng trưởng.
Vì vậy,
bài toán đặt ra là phải nâng chất lượng dòng vốn FDI, tăng cường khả năng lan tỏa
sang khu vực doanh nghiệp trong nước. Điều này đòi hỏi chính sách phải tập
trung vào phát triển công nghiệp hỗ trợ, thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị, nâng
cao năng lực công nghệ của doanh nghiệp trong nước để tham gia sâu hơn vào mạng
lưới sản xuất toàn cầu.
Tăng
trưởng dựa nhiều vào FDI có thể tạo ra những con số ấn tượng trong ngắn hạn,
nhưng sẽ khó bền vững nếu doanh nghiệp trong nước không lớn lên cùng dòng vốn
đó.
TIỀU DÙNG TRONG NƯỚC PHỤC HỒI CHẬM
Tổng mức
bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng hai tháng đầu năm 2026 đạt
1.236,6 nghìn tỷ đồng, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn đáng kể so
với mức tăng 6,2% của năm 2025 và 5,3% của năm 2024, đặt trong bối cảnh trong 2
tháng đầu năm nay có 4,7 triệu lượt khách quốc tế, tăng 18,1%, đến tiêu dùng tại
thị trường Việt Nam.
Diễn biến
này cho thấy tổng cầu tiêu dùng trong nước vẫn phục hồi chậm, trong khi tiêu
dùng đóng vai trò trụ cột quan trọng nhất để bù đắp biến động bất lợi của
thương mại hàng hoá quốc tế. Nếu xu hướng này kéo dài, động lực tăng trưởng dựa
vào cầu trong nước sẽ suy yếu.
Nếu cầu
tiêu dùng trong nước không được cải thiện, nền kinh tế sẽ phụ thuộc nhiều hơn
vào xuất khẩu và vốn FDI thực hiện trong bối cảnh kinh tế, địa chính trị thế giới
biến động khó lường. Khi tiêu dùng cuối cùng trong nước – trụ cột quan trọng, ổn
định nhất của tăng trưởng suy yếu, nền kinh tế sẽ dễ bị tổn thương hơn trước cú
sốc bên ngoài.
CỦNG CỐ NĂNG LỰC NỘI SINH – ĐIỀU KIỆN ĐỂ TĂNG TRƯỞNG BỀN VỮNG
Bức
tranh kinh tế hai tháng đầu năm 2026 cho thấy nền kinh tế vẫn trên đà phục hồi
tích cực với sản xuất công nghiệp mở rộng, chỉ số PMI duy trì ở vùng tăng trưởng
và dòng vốn FDI thực hiện tiếp tục tăng. Tuy nhiên, phía sau những tín hiệu
tích cực đó, một số hạn chế về cấu trúc của nền kinh tế cũng đang dần lộ rõ.
Trước hết,
sức khỏe của khu vực doanh nghiệp trong nước chưa thực sự cải thiện bền vững
khi số doanh nghiệp rút khỏi thị trường còn lớn và phần lớn doanh nghiệp thành
lập mới tập trung ở các lĩnh vực dịch vụ phục vụ tiêu dùng. Bên cạnh đó, cấu
trúc tăng trưởng tiếp tục dựa nhiều vào khu vực FDI và các ngành xuất khẩu chủ
lực, trong khi khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị của doanh nghiệp trong
nước còn hạn chế. Điều này làm gia tăng nguy cơ phụ thuộc vào các động lực tăng
trưởng bên ngoài.
Trong
khi đó, áp lực chi phí đầu vào gia tăng cùng với biến động giá năng lượng toàn
cầu đang đặt ra thách thức mới đối với ổn định vĩ mô, khiến dư địa điều hành
chính sách trong thời gian tới có thể bị thu hẹp. Những tín hiệu này cho thấy
bài toán của điều hành kinh tế trong giai đoạn tới không chỉ là duy trì đà tăng
trưởng, mà quan trọng hơn là củng cố năng lực nội sinh của nền kinh tế.
Chỉ khi
khu vực doanh nghiệp trong nước thực sự lớn lên và tham gia sâu vào chuỗi giá
trị sản xuất, tăng trưởng mới không còn phụ thuộc vào các động lực bên ngoài, nền
kinh tế mới có đủ dư địa để phát triển bền vững trong một môi trường toàn cầu
ngày càng biến động. Tăng trưởng chỉ thực sự bền vững khi khu vực trong nước đủ
mạnh để dẫn dắt nền kinh tế.
—
(*) Nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Cục Thống kê, Bộ Tài chính)
Nội dung bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 10-2026 phát hành ngày 09/3/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-10-2026.html

-TS. Nguyễn Bích Lâm*




