Trước chủ trương tinh gọn bộ máy theo Nghị quyết 105/NQ-CP, nhiều tổ chức bảo tồn thiên nhiên kiến nghị Chính phủ tránh sáp nhập các vườn quốc gia một cách cơ học. Việc tinh gọn cần dựa trên đánh giá khoa học để không gây hại đến đa dạng sinh học và an ninh sinh thái quốc gia…
Ngày 20/5/2026, các tổ chức bảo tồn thiên nhiên gồm: Trung tâm Con người và Thiên nhiên, Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên, Trung tâm Bảo tồn Động vật Hoang dã tại Việt Nam cùng nhiều tổ chức khác hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học đã gửi Bản kiến nghị đến Thủ tướng Chính phủ; Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Văn phòng Chính phủ; Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Quốc hội; Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương đề nghị xem xét kỹ lưỡng tác động sinh thái trước khi thực hiện các quyết định sáp nhập theo chủ trương mới.
Các đơn vị cho biết đã có nhiều năm đồng hành cùng cơ quan nhà nước và địa phương trong các hoạt động bảo tồn thiên nhiên, phát triển bền vững và quản lý tài nguyên sinh thái.
LO NGẠI SÁP NHẬP CƠ HỌC LÀM SUY GIẢM GIÁ TRỊ BẢO TỒN
Theo nội dung kiến nghị, Nghị quyết
105/NQ-CP của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 210-KL/TW về
tiếp tục xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị trong thời
gian tới đã đặt mục tiêu tiếp tục xây dựng bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả,
trong đó có việc sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp công lập của bộ, ngành và địa
phương. Tuy nhiên, các tổ chức bảo tồn cho rằng hệ thống vườn quốc gia và khu bảo
tồn có tính chất đặc thù rất khác với các đơn vị sự nghiệp công lập thông thường,
bởi đây là nền tảng quan trọng bảo vệ an ninh sinh thái quốc gia.

Các vườn quốc gia và khu bảo tồn hiện đóng vai trò duy
trì rừng tự nhiên, bảo vệ nguồn nước, lưu giữ hệ sinh thái đất ngập nước, rạn
san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn và sinh cảnh của nhiều loài nguy cấp, quý
hiếm. Đây cũng là nơi bảo tồn nguồn gen, duy trì các dịch vụ hệ sinh thái thiết
yếu cho sản xuất và đời sống của người dân.
Theo Quyết định số 1106/QĐ-BNNMT công bố hiện trạng rừng
toàn quốc năm 2025, Việt Nam hiện có gần 15 triệu ha rừng, trong đó diện tích rừng
đặc dụng đạt hơn 2,25 triệu ha, tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc đạt 42,03%.
Trong
khi đó, ở khu vực biển, Quyết định số 1539/QĐ-TTg đặt mục tiêu đến năm 2030 phải
mở rộng và quản lý hiệu quả 27 khu bảo tồn biển, bảo đảm diện tích các khu bảo
tồn biển và ven biển đạt 6% diện tích tự nhiên vùng biển Việt Nam.
Các tổ chức bảo tồn nhấn mạnh: Hệ thống bảo tồn của
Việt Nam không chỉ giới hạn ở rừng đặc dụng mà còn bao gồm khu bảo tồn biển, đất
ngập nước quan trọng, khu Ramsar, hành lang đa dạng sinh học và nhiều vùng sinh
cảnh có giá trị đặc biệt ở cấp quốc gia và quốc tế.
Điều khiến các tổ chức lo ngại là khả năng việc sáp nhập
sẽ được thực hiện theo địa giới hành chính hoặc theo chỉ tiêu cắt giảm đầu mối
mà chưa đánh giá đầy đủ giá trị sinh thái của từng khu bảo tồn. Theo đó, có những
khu bảo tồn diện tích không lớn hoặc nhân sự ít nhưng lại là nơi duy nhất còn
lưu giữ sinh cảnh của các loài đặc hữu, nguy cấp hoặc các hệ sinh thái quý hiếm
như bãi đẻ của rùa biển, vùng chim di cư hay rừng đầu nguồn có ý nghĩa toàn cầu.
“Những giá trị này không thể được đánh giá chỉ bằng số lượng
biên chế hay khả năng tự chủ tài chính”, nội dung kiến nghị nhấn mạnh.
Các tổ chức cũng cho rằng định hướng phát triển của Việt
Nam trong giai đoạn mới đều đặt ra yêu cầu phát triển nhanh nhưng bền vững,
thúc đẩy kinh tế xanh, bảo vệ môi trường và ngăn chặn suy giảm đa dạng sinh học.
Vì vậy, hệ thống vườn quốc gia và khu bảo tồn cần được nhìn nhận như nền tảng
sinh thái và văn hóa của quốc gia, chứ không phải không gian phục vụ cho tăng
trưởng kinh tế ngắn hạn.
ĐỀ XUẤT QUẢN LÝ THỐNG NHẤT HỆ THỐNG KHU BẢO TỒN QUỐC GIA
Theo các đơn vị kiến nghị, dư địa phát triển của ngành
lâm nghiệp hiện nay chủ yếu nằm ở hơn 8 triệu ha rừng sản xuất, còn hơn 2,25
triệu ha rừng đặc dụng cùng các khu bảo tồn biển và đất ngập nước cần được quản
lý theo mục tiêu ưu tiên cao nhất là bảo tồn thiên nhiên và duy trì vốn tự
nhiên cho các thế hệ tương lai.
Từ những phân tích trên, các tổ chức bảo tồn kiến nghị
Chính phủ tạm dừng việc sáp nhập cơ học hoặc xử lý đơn lẻ các ban quản lý khu bảo
tồn tại từng địa phương nếu chưa có đánh giá đầy đủ về tác động lâu dài đối với
hệ sinh thái và mục tiêu bảo tồn.
Thay vào đó, các đơn vị đề xuất giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì xây dựng một đề án tổng thể về tổ chức lại hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia. Đề án cần đưa ra phương án đồng bộ về pháp lý, tài chính, nhân sự, tài sản công, dữ liệu và thẩm quyền quản lý, tránh tình trạng triển khai rời rạc hoặc xử lý riêng lẻ từng khu bảo tồn.
Trong kiến nghị, các tổ chức đã đưa ra tám nhóm giải pháp
lớn. Trong đó, đáng chú ý là đề xuất xác lập nguyên tắc quản lý khu bảo tồn dựa
trên giá trị sinh thái thay vì chỉ căn cứ vào địa giới hành chính. Những khu có
liên kết sinh thái trực tiếp, dù nằm ở nhiều tỉnh khác nhau, có thể xem xét quản
lý như một đơn vị thống nhất. Ngược lại, những khu khác biệt lớn về hệ sinh
thái và mục tiêu bảo tồn thì không nên sáp nhập chỉ để giảm đầu mối.
Một nội dung khác được nhấn mạnh là cần hình thành đầu mối
chuyên trách cấp quốc gia đủ thẩm quyền quản lý trực tiếp hệ thống khu bảo tồn
có giá trị quốc gia. Theo đó, chức năng quản lý liên quan đến đa dạng sinh học,
kiểm lâm, thủy sản, biển và đất ngập nước cần được rà soát, tổ chức lại theo hướng
thống nhất hơn.
Các tổ chức cũng đề xuất duy trì và tăng cường ban quản
lý tại chỗ ở mỗi khu bảo tồn hoặc cụm khu bảo tồn sau sắp xếp. Đây được xem là
lực lượng trực tiếp thực hiện công tác tuần tra, giám sát đa dạng sinh học, phục
hồi sinh thái, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường, quản lý du lịch sinh
thái và xử lý các vi phạm ban đầu.
Ngoài ra, kiến nghị còn đề cập việc phân định rõ vai trò
giữa trung ương và địa phương trong quản lý khu bảo tồn. Chính quyền địa phương
vẫn giữ vai trò quan trọng trong quản lý vùng đệm, hỗ trợ sinh kế cộng đồng,
phòng cháy chữa cháy và bảo đảm an ninh trật tự. Tuy nhiên, các quyết định cốt
lõi liên quan đến mục tiêu bảo tồn, phân khu chức năng hay chuyển đổi sử dụng đất
cần được đặt dưới sự giám sát và phê duyệt của cơ quan trung ương.
Vấn đề tài chính cho các khu bảo tồn cũng được đặc biệt
quan tâm. Các tổ chức cho rằng hệ thống khu bảo tồn là tài sản quốc gia, vì vậy
đầu tư cho công tác quản lý và bảo vệ cũng chính là đầu tư cho phát triển bền vững.
Ngân sách trung ương cần bảo đảm các nhiệm vụ cốt lõi như tuần tra bảo vệ rừng,
giám sát đa dạng sinh học, nghiên cứu khoa học, phục hồi hệ sinh thái, cứu hộ động
vật hoang dã và phòng cháy chữa cháy.
-Chu Khôi




