PV: Ông đánh giá thế nào về những điểm sáng nổi bật trong bức tranh kinh tế 6 tháng đầu năm 2026?
![]() |
| TS. Nguyễn Văn Hiến |
TS. Nguyễn Văn Hiến: Các số liệu thống kê vừa được công bố cho thấy, GDP quý II/2026 ước tăng 8,39%, đưa mức tăng trưởng 6 tháng đầu năm lên 8,18% – đây là mức tăng trưởng cao nhất trong nhiều năm gần đây.
Tôi cho rằng, điểm sáng tích cực nhất là ngành chế biến, chế tạo tăng trên 10%, điều này cho thấy các đơn hàng xuất khẩu đã được phục hồi, các doanh nghiệp FDI tiếp tục mở rộng sản xuất và khối doanh nghiệp trong nước đã từng bước lấy lại đà tăng trưởng. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 6 tháng đầu năm tăng khoảng 10,8%, cho thấy đà phục hồi của khu vực sản xuất đã thể hiện khá rõ nét.
Bên cạnh đó, tăng trưởng GDP đạt mức cao và có chất lượng hơn. Cụ thể, công nghiệp và xây dựng tăng khoảng 10,5%, tiếp tục là đầu tàu của tăng trưởng; dịch vụ tăng gần 7,9%, phản ánh sức cầu trong nước phục hồi tốt và nông nghiệp vẫn duy trì tốc độ tăng trên 4%, đóng vai trò bệ đỡ ổn định của nền kinh tế. Điều này cho thấy tăng trưởng không còn phụ thuộc vào một vài ngành riêng lẻ mà đã lan tỏa trên diện rộng.
Ngoài ra, thu hút FDI có sự bứt phá mạnh – điều này cho thấy Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn trong xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu…
PV: Bên cạnh những động lực tăng trưởng truyền thống, các động lực tăng trưởng mới đã hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong quý II ra sao, thưa ông?
TS. Nguyễn Văn Hiến: Theo tôi, một trong những điểm đáng chú ý nhất của bức tranh kinh tế quý II/2026 là các động lực tăng trưởng mới đang từng bước hình thành và bắt đầu đóng góp rõ nét hơn vào tăng trưởng kinh tế, bên cạnh những động lực truyền thống như xuất khẩu, đầu tư và tiêu dùng. Mặc dù quy mô đóng góp hiện nay chưa lớn, nhưng đây là tín hiệu rất tích cực, bởi nó phản ánh quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng của Việt Nam theo hướng dựa nhiều hơn vào đổi mới sáng tạo, công nghệ và nâng cao năng suất.
Trong đó, chuyển đổi số và kinh tế số đang trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây và các nền tảng số đã giúp nhiều doanh nghiệp tối ưu hóa quy trình sản xuất, giảm chi phí vận hành và nâng cao năng suất lao động. Điều này góp phần gia tăng năng suất tổng hợp (TFP) – yếu tố ngày càng có vai trò quyết định đối với chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế.
Cùng với đó, đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái khởi nghiệp tiếp tục có những bước phát triển tích cực. Những năm gần đây, Việt Nam đã hình thành một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo khá năng động với sự tham gia của doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và các quỹ đầu tư. Mặc dù tác động trực tiếp đến tăng trưởng GDP trong ngắn hạn chưa thật sự lớn, nhưng đây là nền tảng để tạo ra các ngành nghề mới, sản phẩm mới và mô hình kinh doanh mới có giá trị gia tăng cao hơn trong tương lai.
Đối với kinh tế xanh và chuyển đổi năng lượng, xu hướng này không chỉ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu mà còn tạo điều kiện đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe về môi trường của các thị trường xuất khẩu lớn như Liên minh châu Âu và Bắc Mỹ…
![]() |
| Chuyển đổi số và kinh tế số đang trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng. Ảnh: SHUTTERSTOCK |
PV: Theo ông, trong 6 tháng cuối năm 2026, nền kinh tế Việt Nam đối mặt với những thách thức gì từ bên ngoài?
TS. Nguyễn Văn Hiến: Theo tôi, mặc dù bức tranh chung có nhiều điểm sáng, song 6 tháng cuối năm vẫn là giai đoạn có nhiều thách thức từ bên ngoài. Trong đó, rủi ro lớn nhất vẫn đến từ môi trường kinh tế quốc tế đầy bất định. Tăng trưởng kinh tế toàn cầu được dự báo tiếp tục ở mức thấp, trong khi xu hướng phân mảnh kinh tế, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn và chủ nghĩa bảo hộ thương mại có dấu hiệu gia tăng. Những yếu tố này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam – khu vực đóng góp gần 20% GDP nếu tính theo tổng kim ngạch xuất nhập khẩu.
Cần tập trung tháo gỡ khó khăn dòng tiền cho doanh nghiệpTheo TS. Nguyễn Văn Hiến, trong 6 tháng cuối năm, nhiều doanh nghiệp không chỉ cần lãi suất thấp hơn mà cần dòng tiền quay lại nhanh hơn. Vì vậy, cần đẩy nhanh hoàn thuế giá trị gia tăng, rút ngắn thời gian xử lý thủ tục hành chính, thanh toán kịp thời các khoản nợ đọng xây dựng cơ bản, thúc đẩy tín dụng đúng vào các lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, tiêu dùng và doanh nghiệp nhỏ và vừa có đơn hàng nhưng thiếu vốn lưu động. Đây là nhóm giải pháp có tác động rất thực tế vì khi dòng tiền được khơi thông, doanh nghiệp có thể mua nguyên liệu, trả lương, duy trì đơn hàng và mở rộng sản xuất ngay trong năm. |
Đặc biệt, những bất ổn địa chính trị tiếp tục là yếu tố khó dự báo. Xung đột tại một số khu vực trên thế giới chưa có dấu hiệu hạ nhiệt, kéo theo nguy cơ gián đoạn chuỗi cung ứng. Nếu giá dầu thế giới tăng mạnh trở lại hoặc chi phí vận chuyển quốc tế leo thang, áp lực lạm phát nhập khẩu sẽ gia tăng và ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Một thách thức khác là xu hướng gia tăng các hàng rào kỹ thuật và tiêu chuẩn xanh trong thương mại quốc tế. Đây vừa là động lực thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới, nhưng cũng là sức ép rất lớn đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa khi năng lực tài chính, công nghệ và quản trị còn hạn chế. Nếu không kịp thích ứng, nguy cơ mất thị phần xuất khẩu là hoàn toàn có thể xảy ra.
PV: Để đạt mục tiêu tăng trưởng cao trong năm 2026, đâu là những giải pháp cần ưu tiên ngay từ bây giờ, thưa ông?
TS. Nguyễn Văn Hiến: Tôi cho rằng, để đạt mục tiêu tăng trưởng cao trong năm 2026, các giải pháp trong 6 tháng cuối năm cần tập trung vào những chính sách có khả năng tạo tác động nhanh, trực tiếp và đo lường được ngay trong năm nay.
Trước hết, cần đẩy nhanh giải ngân đầu tư công với tinh thần “làm đến đâu, tạo tác động đến đó”. Trong ngắn hạn, đầu tư công vẫn là công cụ có tác động trực tiếp nhất đến tăng trưởng. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ là giải ngân cho hết kế hoạch vốn, mà phải tập trung vào các dự án đã đủ thủ tục, có khả năng thi công ngay, hấp thụ vốn nhanh và tạo hiệu ứng lan tỏa lớn. Các dự án còn vướng pháp lý, mặt bằng hoặc thủ tục kéo dài cần được phân loại rõ: dự án nào tháo gỡ được trong quý III thì tập trung xử lý; dự án nào chưa thể triển khai ngay thì mạnh dạn điều chuyển vốn sang các dự án có khả năng giải ngân tốt hơn. Đây là giải pháp có thể tạo tác động tức thời đến tổng cầu trong nửa cuối năm.
Thứ hai, cần kích cầu tiêu dùng nội địa một cách có chọn lọc. Có thể đẩy mạnh các chương trình khuyến mại tập trung cấp quốc gia, giảm phí, lệ phí cho một số dịch vụ thiết yếu, thúc đẩy thanh toán số, hỗ trợ du lịch mùa thấp điểm và tăng kết nối giữa hàng hóa sản xuất trong nước với hệ thống phân phối. Mục tiêu là làm cho sức mua quay vòng nhanh hơn, qua đó tạo hiệu ứng lan tỏa đến sản xuất và dịch vụ.
Thứ ba, cần giữ mặt bằng lãi suất và tỷ giá ổn định trong biên độ hợp lý; hỗ trợ nhanh các ngành có khả năng đóng góp tăng trưởng ngay, nhất là công nghiệp chế biến, chế tạo, xuất khẩu, du lịch, logistics, bán lẻ và xây dựng… Đồng thời, cần nâng cao kỷ luật thực thi chính sách ở địa phương và bộ, ngành, vì ở giai đoạn nước rút, một quyết định chậm có thể làm mất cơ hội tăng trưởng của cả quý.
PV: Xin cảm ơn ông!



