Kinh tế tuần hoàn không chỉ là con đường để đảm bảo các mục tiêu về môi trường, phát triển bền vững mà có thể tạo ra được các động lực mới cho tăng trưởng. Động lực mới từ chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn còn nhiều dư địa.
Kinh tế tuần hoàn không còn là xu hướng mà đang đi vào thực tiễn, là con đường ngày càng nhiều quốc gia, doanh nghiệp lựa chọn. Chuyên đề Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy kỳ này đưa ra các góc nhìn, quan điểm của chuyên gia, chia sẻ của cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến định hướng chính sách, giải pháp huy động nguồn lực hỗ trợ doanh nghiệp thúc đẩy ứng dụng kinh tế tuần hoàn một cách hiệu quả, đóng góp cho tăng trưởng cao và bền vững.



“Chúng
ta đã có một phiên chuyên đề về thúc đẩy chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần
hoàn, hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng bền vững rất thành công. Phiên chuyên
đề đã khẳng định được ý nghĩa đặc biệt quan trọng của kinh tế tuần hoàn, nhấn mạnh
đây là con đường bắt buộc phải đi, để đạt được các mục tiêu tăng trưởng cao, đồng
thời đảm bảo các mục tiêu phát triển bền vững. Trước đây, hai mục tiêu này mâu
thuẫn với nhau, nhưng bối cảnh mới cho thấy chúng ta có thể làm được điều đó.
Qua trao đổi,
thảo luận, trước hết, chúng ta đã nhìn nhận được thực trạng của thực hiện kinh
tế tuần hoàn. Mặc dù ở giai đoạn ban đầu nhưng có thể thấy trong nhiều lĩnh vực
đã có những mô hình tốt. Triển khai thực hiện kinh tế tuần toàn đã có một số kết
quả rất đáng khích lệ.
Kinh tế tuần
hoàn không chỉ là con đường để đảm bảo các mục tiêu về môi trường, mà có thể tạo
ra các động lực mới cho tăng trưởng. Động lực mới từ chuyển đổi xanh còn rất
nhiều dư địa, từ năng lượng tái tạo, thị trường carbon, các công cụ tài chính mới
và gắn với chuyển đổi kép. Chuyển đổi xanh nhưng không tách rời khỏi chuyển đổi
số, mà luôn phải đi cùng với nhau, đã chuyển đổi xanh phải có chuyển đổi số và
ngược lại.
Cùng với
đó, tuy thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn, nhưng đột phá cũng phải là thể chế.
Mặc dù khung khổ pháp lý về kinh tế tuần hoàn khá đầy đủ, nhưng mới dừng lại ở
các chiến lược và khung. Qua chia sẻ của các doanh nghiệp và địa phương cho thấy
còn nhiều vướng mắc. Vì vậy, dư địa cho hoàn thiện cơ chế chính sách còn rất
nhiều, rất cần cụ thể để có điều kiện khuyến khích được các doanh nghiệp, hộ
gia đình, chủ thể tham gia.
Cần thống
nhất rằng chuyển đổi số, chuyển đổi xanh phải có công nghệ. Chúng ta phải có
công nghệ xanh, hiện đại, thân thiện môi trường, nền tảng công nghệ phải thích ứng
được với điều kiện mới để giải quyết những bài toán rất phức tạp về xanh hóa. Mặt
khác, trong bối cảnh mới, ứng dụng khoa học, công nghệ mới không thể tách rời đổi
mới sáng tạo.
Đối với
các chủ thể, có 3 chủ thể quan trọng là cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp
và người dân. Cơ quan quản lý nhà nước phải vào cuộc, doanh nghiệp cũng vậy
nhưng phải nhân rộng hơn, còn người dân phải nâng cao nhận thức, tham gia trực
tiếp bằng ý thức xã hội của mình, tạo ra nếp sống, lối sống, văn hóa sống xanh.
Những vấn
đề liên quan đến tài chính cũng không thể tách rời. Hiện nay tài chính, kinh
phí đầu tư cho khoa học, công nghệ, chuyển đổi xanh còn khiêm tốn, trong khi
yêu cầu rất lớn. Những giải pháp về tài chính, trong đó chia sẻ kinh nghiệm của
các ngân hàng, tổ chức tài chính rất quan trọng. Chúng ta cần nhiều hơn các
công cụ tài chính, không chỉ là thuế, phí, mà cả công cụ tài chính xanh nói
chung và các sản phẩm mới có tính đột phá.
Hợp tác quốc
tế cũng còn rất nhiều dư địa. Các nước phát triển cam kết giúp đỡ các nước đang
phát triển rất nhiều, nhưng nếu chúng ta không chú ý thì không chớp được cơ hội
này. Cơ hội tài chính đối với các nước đang phát triển là rất cần thiết.
Như vậy, hợp
tác quốc tế sẽ tiếp tục là một trong những kênh quan trọng để chúng ra vừa có ý
tưởng mới, chia sẻ những kinh nghiệm, bài học quốc tế tốt, vừa giúp có thêm
kênh huy động tài chính để đáp ứng yêu cầu chuyển đổi xanh”.

“Những
năm gần đây, Đảng, Chính phủ quan tâm xây dựng ban hành các văn bản chính sách
pháp luật về kinh tế tuần hoàn, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững nền kinh
tế. Nhằm thúc đẩy doanh nghiệp áp dụng kinh tế tuần hoàn đáp ứng yêu cầu thực
tiễn về chuyển đổi xanh, phù hợp các cam kết quy định, chính sách trong nước và
quốc tế, Bộ Công Thương sẽ ưu tiên triển khai ba nhiệm vụ trọng tâm về kinh tế
tuần hoàn.
Thứ nhất, đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, ứng
dụng công nghệ, giải pháp thúc đẩy kinh tế tuần hoàn trong các ngành, lĩnh vực
có tiềm năng. Hoạt động ứng dụng công nghệ, đổi mới mô hình kinh doanh bền vững,
thúc đẩy kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam đang có những dấu hiệu khởi sắc. Tuy
nhiên, thực tiễn cho thấy, ứng dụng công nghệ và giải pháp kỹ thuật, mô hình bền
vững vẫn đang là thách thức lớn của nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh
nghiệp nhỏ và vừa (SME) do hạn chế nguồn lực đầu tư và triển khai.
Trên cơ sở
các định hướng ưu tiên lớn về khoa học công nghệ gắn với thực tiễn thực hiện
kinh tế tuần hoàn, Bộ Công Thương hiện đang nghiên cứu xây dựng các nhiệm vụ ưu
tiên về đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học, công nghệ thúc đẩy kinh tế tuần
hoàn trong ngành.
Đối với việc
áp dụng các mô hình bền vững về kinh tế tuần hoàn tại các doanh nghiệp dù có tiềm
năng và lợi ích, song thực tế còn nhiều thách thức do nguồn lực hạn chế. Bộ
Công Thương sẽ tiếp tục đẩy mạnh ưu tiên triển khai các mô hình kinh tế tuần
hoàn tại các Chương trình hiện hành về sản xuất và tiêu dùng bền vững, sử dụng
nguồn lực tiết kiệm và hiệu quả,…

Thứ hai, thúc đẩy xúc tiến thương mại bền vững;
tăng cường đào tạo truyền thông, khuyến khích các doanh nghiệp thực hành tốt mô
hình kinh tế tuần hoàn, các sản phẩm đạt chứng nhận bền vững, tuần hoàn.
Những năm
gần đây, Bộ Công Thương chú trọng tổ chức hoạt động xúc tiến thương mại bền vững,
qua đó chúng tôi nhận thấy rõ hơn nhu cầu của doanh nghiệp Việt Nam trong liên
kết hợp tác với các bên nhằm nâng cao hiểu biết thị trường sản phẩm công nghệ,
đồng thời quảng bá hình ảnh thương hiệu và thúc đẩy mở rộng thị trường các sản
phẩm, công nghệ đạt tiêu chuẩn chứng nhận xanh.
Đối với
các doanh nghiệp quan tâm, áp dụng thành công các mô hình, giải pháp bền vững
góp phần sử dụng hiệu quả năng lượng, nguyên vật liệu, hóa chất thân thiện môi
trường, năng lượng tái tạo, giảm thiểu ô nhiễm và nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh cần được khuyến khích. Các điển hình tốt về sản xuất thương mại và
tiêu dùng bền vững nhằm tạo ra các sản phẩm đạt chứng nhận xanh, tuần hoàn như
vậy cần được tuyên truyền, chứng nhận trao giải.
Theo đó, Bộ
Công Thương sẽ tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và triển khai các nhiệm vụ, hoạt động
xúc tiến thương mại bền vững và truyền thông nhằm khuyến khích các doanh nghiệp,
người tiêu dùng thực hành tốt về kinh tế tuần hoàn và sản xuất tiêu dùng bền vững.
Thứ ba, tăng cường hợp tác với các bộ,
ngành, địa phương; các quốc gia, tổ chức quốc tế và trong nước nhằm hỗ trợ
doanh nghiệp và các bên liên quan. Chúng tôi nhận thấy, nhằm thúc đẩy lĩnh vực
kinh tế tuần hoàn- một lĩnh vực khá rộng gắn liền với các vấn đề nguyên vật liệu
năng lượng và chất thải theo cách tiếp cận chuỗi, có tính liên ngành. Do đó, việc
hợp tác giữa Bộ Công Thương với các tổ chức quốc tế và các bộ, ngành, địa
phương là hết sức cần thiết.
Bên cạnh
đó, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng kinh tế tuần hoàn trong các lĩnh vực ngành
Công Thương, Bộ dự kiến tổ chức triển khai hai hoạt động cụ thể.
Thứ nhất, triển khai Kế hoạch thực hiện kinh
tế tuần hoàn của ngành Công Thương, trong đó ưu tiên tập trung các nhiệm vụ: về
các hoạt động nghiên cứu xây dựng chính sách; tăng cường tuyên truyền, đào tạo
nâng cao nhận thức, đặc biệt là các quy định tiêu chuẩn xanh về kinh tế tuần
hoàn; tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại; thúc đẩy áp dụng thí điểm
các mô hình kinh tế tuần hoàn.
Thứ hai, đẩy mạnh các hoạt động hợp tác
kinh tế tuần hoàn với các cơ quan, tổ chức, quốc gia, đặc biệt là các nước dẫn
đầu thực hiện kinh tế tuần hoàn và có tác động đến hoạt động thương mại xuất khẩu
theo hướng bền vững.
Thực hiện
kinh tế tuần hoàn không còn là xu hướng mà đã và đang đi vào thực tiễn, không
phải là con đường duy nhất nhưng là con đường ngày càng nhiều quốc gia khu vực,
doanh nghiệp lựa chọn nhằm để đạt các mục tiêu Phát triển bền vững SDG của Liên
hợp quốc ở góc độ doanh nghiệp, ngành và toàn nền kinh tế”.

“Chiến
lược của Vietinbank là hướng tới phát triển an toàn, hiệu quả và bền vững.
Chúng tôi cũng xác định chuyển đổi xanh và chuyển đổi số là hai chiến lược quan
trọng giúp Vietinbank đạt được mục tiêu này.
Về tài
chính xanh, trong bối cảnh đất nước đặt ra mục tiêu tăng trưởng xanh thì tài
chính chính đóng vai trò quan trọng trong thu hút nguồn vốn và điều hướng nguồn
vốn này đến những hoạt động thân thiện môi trường, góp phần giúp các doanh nghiệp
chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn và hướng tới mục tiêu phát triển
bền vững.
Với vai
trò là ngân hàng thương mại Nhà nước lớn và chủ lực của nền kinh tế, chúng tôi
đã và đang cung cấp các sản phẩm tài chính xanh toàn diện cho khách hàng.
Các sản phẩm
tài chính xanh của chúng tôi tập trung vào 3 nhóm.
Thứ nhất, về các sản phẩm cho vay, chúng tôi
nỗ lực đơn giản hóa các thủ tục, chuyển đổi số, góp phần tạo sự thuận tiện
trong khâu tiếp cận vốn của doanh nghiệp.
Theo hướng
dẫn của Ngân hàng Nhà nước và thông lệ thị trường, chúng tôi cũng đưa tiêu chí
xanh và bền vững trong tiêu chí thẩm định để cấp tín dụng. Như vậy, các doanh
nghiệp đạt những tiêu chí xanh rõ ràng sẽ được ưu tiên cấp tín dụng hơn so với
những doanh nghiệp chưa đạt được những chứng chỉ xanh.
Dư nợ
trong lĩnh vực xanh của Vietinbank hiện nay tập trung chủ yếu trong các ngành
như năng lượng tái tạo, liên quan đến nông, lâm nghiệp xanh, xử lý rác thải, nước
sạch… Đến nay, bằng các nỗ lực, chúng tôi cũng có những gói ưu đãi lãi suất cho
khách hàng, cùng nhiều chương trình khác. Vietinbank cũng tham gia tổ dự thảo
nghị định hỗ trợ lãi suất 2%/năm từ ngân sách nhà nước cho doanh nghiệp tư
nhân, hộ kinh doanh và cá nhân thực hiện các dự án xanh, tuần hoàn…
Thứ hai, về các sản phẩm huy động vốn,
Vietinbank cũng là ngân hàng tiên phong nhờ sợ trợ giúp của ngân hàng đối tác lớn
ở Nhật Bản. Chúng tôi cũng phát triển sản phẩm tiền gửi xanh nhằm kết nối người
gửi tiền với người cho vay xanh. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng nỗ lực làm việc với
các tổ chức quốc tế để triển khai tìm kiếm những nguồn vốn huy động song
phương, cũng như phát hành trái phiếu xanh để đa dạng hóa cơ cấu nguồn vốn huy
động, tăng nguồn lực cho vay xanh của ngân hàng.
Thứ ba, nhóm giải pháp hỗ trợ kỹ thuật và
nâng cao năng lực. Chúng tôi cũng nỗ lực tổ chức các hội thảo, chương trình đào
tạo, hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao nhận thức, xây dựng lộ trình chuyển đổi,
tìm kiếm cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu, tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.
Về các nỗ lực xây dựng
hạ tầng, Vietinbank cũng triển khai đồng bộ trên các lĩnh vực, từ xây dựng chiến
lược, hoàn thiện mô hình tổ chức, xây dựng hệ thống văn bản chính sách, công
nghệ dữ liệu. Đây là yếu tố rất quan trọng quyết định thành công trong các chiến
lược của ngân hàng”.

“Tại
Việt Nam, Na Uy đang hợp tác chặt chẽ với các đối tác thông qua Dự án “Biến rác
thải nhựa đại dương thành cơ hội trong nền kinh tế tuần hoàn” (OPTOCE).
Việt Nam
đang đối mặt với một thách thức lớn, đó là mức sử dụng nhựa hiện nay đã cao gấp
mười lần so với năm 1990, với hơn 3,5 triệu tấn rác thải nhựa được tạo ra mỗi
năm nhưng chỉ khoảng 20% được tái chế. Nếu xu hướng này tiếp diễn, lượng rác thải
nhựa ra biển có thể tăng gấp đôi vào năm 2030.
Ngành xi
măng có quy mô đủ lớn để xử lý phần lớn lượng chất thải không thể tái chế này.
Các thử nghiệm tại Việt Nam cho thấy đồng xử lý là an toàn và sẵn sàng để mở rộng
quy mô.
Cần nhấn mạnh
rằng đồng xử lý không nhằm thay thế tất cả các giải pháp quản lý chất thải
khác. Ngược lại, nó bổ trợ cho các giải pháp đó, đặc biệt đối với các loại chất
thải khô, dễ cháy như nhựa giá trị thấp, vải cũ và các vật liệu không thể tái
chế. Những loại này là nhiên liệu phù hợp cho lò nung xi măng và có thể thay thế
than. Trong khi đó, rác sinh hoạt có hàm lượng chất hữu cơ cao, hoặc ẩm phù hợp
hơn với các phương pháp xử lý khác.
Đồng xử lý
thực sự là một giải pháp “ba bên cùng có lợi”. Đối với môi trường, đồng xử lý
cho phép tiêu hủy an toàn chất thải không thể tái chế trong lò nung xi măng,
nơi nhiệt độ cực cao đảm bảo sự phân hủy hoàn toàn các chất gây ô nhiễm. Không
giống như các phương pháp chuyển đổi chất thải thành năng lượng (WtE) truyền thống,
đồng xử lý không tạo ra tro dư, vì chất thải trở thành một phần của sản phẩm xi
măng cuối cùng.
Đối với
kinh tế, phương pháp này có thể tiết kiệm chi phí cho cả ngành công nghiệp và
chính quyền địa phương. Các doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí thông qua thay
thế nhiên liệu hóa thạch đắt tiền bằng các nhiên liệu có nguồn gốc từ chất thải.
Các lò nung xi măng đã có sẵn, hoạt động 24/7. Sử dụng các lò này, cộng đồng
tránh được chi phí vốn đáng kể liên quan đến việc xây dựng các cơ sở xử lý chất
thải mới.
Đối với
khí hậu, từ việc thay thế nhiên liệu hóa thạch bằng chất thải, đồng xử lý làm
giảm đáng kể lượng khí thải nhà kính. Tại Na Uy và trên khắp châu Âu, phương
pháp này đã cho phép thay thế tới 75% nhiên liệu truyền thống được sử dụng
trong sản xuất xi măng bằng chất thải. Ấn Độ và Trung Quốc đã chứng minh việc đồng
xử lý có thể được mở rộng quy mô một cách hiệu quả, dẫn đến giảm đáng kể sử dụng
nhiên liệu hóa thạch, giảm phát thải khí nhà kính và giảm áp lực lên các bãi
chôn lấp.
Như vậy, bằng
cách hợp tác, chúng ta có thể biến rác thải nhựa từ gánh nặng thành nguồn tài nguyên,
hỗ trợ tăng trưởng nhanh và bền vững cho thế hệ mai sau. Na Uy sẵn sàng tiếp tục
hỗ trợ Việt Nam thông qua xây dựng chính sách, huy động đầu tư và chia sẻ kinh
nghiệm tốt nhất”.

“Một
lý thuyết được nhiều tổ chức quốc tế thừa nhận rằng nếu một nền kinh tế phát
triển dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, thì sự suy thoái đa dạng
sinh học sẽ diễn ra song hành với tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, khi một nền
kinh tế phát triển theo định hướng kinh tế tuần hoàn, xu hướng mất mát đa dạng
sinh học có thể được đảo chiều.
Với kinh
nghiệm quốc tế, nhiều mô hình thành công đã chứng minh điều đó, như chương
trình phục hồi rừng gắn với sinh kế tại Indonesia, mô hình du lịch sinh thái tại
châu Phi, hay các hệ thống chứng chỉ bền vững cho nông – lâm sản tại Nam Mỹ.
Trong hơn
30 năm hợp tác với Chính phủ Việt Nam, WWF đã phối hợp triển khai nhiều chương
trình nhằm bảo tồn đa dạng sinh học và tài nguyên thiên nhiên. Chúng tôi coi
tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học là một “nguồn vốn dự trữ” cho phát
triển trong tương lai. Bảo tồn tốt chính là đầu tư cho phát triển dài hạn. Bên
cạnh bảo tồn, WWF thúc đẩy phục hồi hệ sinh thái gắn với sinh kế bền vững,
trong đó du lịch sinh thái là hướng đi quan trọng. Du lịch sinh thái không chỉ
tạo sinh kế cho cộng đồng địa phương mà còn tái đầu tư cho bảo tồn.
Một lĩnh vực
then chốt khác là phục hồi rừng và phát triển các chứng chỉ rừng bền vững. WWF
đã hỗ trợ doanh nghiệp và hộ gia đình đạt các chứng chỉ quản lý rừng bền vững,
qua đó tăng giá trị kinh tế từ rừng khoảng 30% so với mô hình trồng rừng thông
thường. Đây cũng là giải pháp góp phần giảm thiểu rủi ro thiên tai, lũ lụt ở miền
Trung, hạn chế tác động lan truyền xuống Đồng bằng sông Cửu Long.
Trong lĩnh
vực kinh tế rừng, chúng tôi hỗ trợ các cộng đồng và doanh nghiệp nhỏ phát triển
mô hình kinh tế dưới tán rừng, như trồng sâm Ngọc Linh, nấm, dược liệu. Đây là
mô hình kinh tế tuần hoàn, tận dụng hợp lý tài nguyên rừng mà không làm suy
thoái hệ sinh thái.
Tại đồng bằng
sông Cửu Long, WWF hỗ trợ các mô hình nông nghiệp phát thải thấp như lúa – tôm,
phục hồi rừng ngập mặn, sử dụng phụ phẩm nông nghiệp theo hướng tuần hoàn. Ví dụ,
rơm rạ sau thu hoạch được tái sử dụng để sản xuất nấm rơm, tạo thành chuỗi giá
trị bền vững.
Trong công
nghiệp, WWF phối hợp với các doanh nghiệp dệt may tại Tây Ninh và nhiều địa
phương, hỗ trợ hơn 400 doanh nghiệp cải thiện hiệu quả sử dụng nước. Nhiều
doanh nghiệp đã tiết kiệm hơn 30% lượng nước sử dụng, giảm tiêu thụ năng lượng.
WWF cũng
triển khai các chương trình hỗ trợ cộng đồng, thúc đẩy khai thác thủy sản bền vững,
chống khai thác IUU và phát triển các chứng chỉ thủy sản bền vững.
Một nội
dung khác là giảm thiểu rác thải nhựa. WWF đang hỗ trợ 10 thành phố Việt Nam hướng
tới mục tiêu “thành phố không rác thải nhựa”, tham gia mạng lưới toàn cầu các
đô thị cam kết giảm ô nhiễm nhựa.
Từ thực tiễn
triển khai, WWF kiến nghị: cần cơ chế để nhân rộng các mô hình kinh tế tuần
hoàn, không chỉ trong các tập đoàn lớn mà cả ở hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ.
Cùng với đó, cần tăng cường năng lực và ứng dụng khoa học công nghệ, bởi đây
không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà là xu thế tất yếu của thời đại.
WWF mong
muốn tiếp tục đồng hành cùng Chính phủ, chính quyền địa phương và cộng đồng
doanh nghiệp để thúc đẩy một nền kinh tế tuần hoàn hoàn chỉnh, gắn với bảo tồn
đa dạng sinh học và phát triển bền vững tại Việt Nam”.

“Theo
đánh giá, Việt Nam là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương nhất trên thế
giới bởi biến đổi khí hậu. Trong năm 2025, Việt Nam đã chịu tổn thất 100.000 tỷ
đồng liên quan đến các thảm họa tự nhiên, biến đổi khí hậu.
Theo ước
tính của Ngân hàng Thế giới (WB), đến năm 2030, nếu không có các giải pháp
thích ứng với biến đổi khí hậu, chúng ta sẽ giảm 9,1% GDP so với mức cơ sở và đến
năm 2050, sẽ tăng lên 12,5%.
Nếu không
triển khai các biện pháp thích ứng, tăng trưởng GDP thực của Việt Nam trong
giai đoạn 2025-2050 có thể giảm trung bình 0,33 điểm phần trăm hằng năm, ảnh hưởng
đến mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045.
Vì vậy,
các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu, các giải pháp kinh tế tuần hoàn,
kinh tế xanh chắc chắn là con đường tất yếu của Việt Nam trong thời gian tới.
Năm 2025
đánh dấu thời điểm then chốt khi các chính sách vĩ mô như Quyết định 222/QĐ-TTg
của Thủ tướng Chính phủ về Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện kinh tế tuần
hoàn và Quyết định 21/2025/QĐ-TTg về Danh mục phân loại xanh đi vào thực tiễn
cuộc sống.
Cũng trong
năm 2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư
nhân. Quốc hội đã có Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế,
chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân trong đó nêu rõ: doanh nghiệp
thuộc khu vực kinh tế tư nhân, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được Nhà nước hỗ
trợ lãi suất 2%/năm khi vay vốn để thực hiện các dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng
khung tiêu chuẩn ESG.
Trong các
Hiệp định FTA thế hệ mới, yêu cầu phát triển bền vững liên quan đến môi trường
và yêu cầu phát triển bao trùm liên quan đến xã hội đều là các yếu tố bắt buộc.
Từ đầu năm
2024, Liên minh châu Âu đã yêu cầu báo cáo Phát triển Bền vững của doanh nghiệp
(CSRD). Liên minh châu Âu cũng yêu cầu báo cáo về CSDDD – yêu cầu thẩm định
trên toàn chuỗi cung ứng.
Đây là những
thách thức lớn với các doanh nghiệp Việt Nam, doanh nghiệp xuất khẩu cũng như
doanh nghiệp FDI ở Việt Nam trong thời gian tới nếu không có bước chuẩn bị cần
thiết để chuyển sang nền kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh và thực hiện các báo
cáo về ESG.
Tại Hội
nghị Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu ở Copenhagen năm 2009, các nước phát triển
đã cam kết hỗ trợ 100 tỷ USD mỗi năm cho các nước đang phát triển. Còn Thỏa thuận
Paris năm 2015, các nước phát triển đã tái cam kết hỗ trợ 100 tỷ USD đến năm
2020. Tại Hội nghị COP29, các nước phát triển đã nâng mức hỗ trợ lên 300 tỷ USD
mỗi năm và cam kết sẽ nâng lên 1.300 tỷ USD mỗi năm vào năm 2035.
Có thể thấy,
các cam kết của thế giới liên quan đến giảm phát thải, kinh tế tuần hoàn, kinh
tế xanh rất lớn, nhưng đó vẫn là mức rất nhỏ. Theo ước tính của OECD, thế giới
cần 100 nghìn tỷ USD để chuyển sang nền kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh và kinh
tế carbon thấp. Do đó, mức hỗ trợ 100 tỷ USD mới chỉ tương đương 0,1% và tới
năm 2035, nếu nâng lên 1.300 tỷ USD thì mới chỉ đạt khoảng 1,3% toàn cầu.
Trong thời
gian qua, tài chính xanh toàn cầu đã thu hút 1.900 tỷ USD và 1.700 tỷ USD tập
trung vào 3 lĩnh vực chính là năng lượng, xây dựng và giao thông vận tải.
Ở Việt
Nam, đến tháng 9/2025 đã huy động được 744 nghìn tỷ đồng liên quan đến tín dụng
xanh, tương đương 6,44% GDP của Việt Nam, là mức tương ứng của tài chính xanh
trên toàn cầu.
Có thể nói
đây là cơ hội để Việt Nam có thể huy động nguồn lực tài chính xanh, hỗ trợ quá
trình chuyển đổi xanh, chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn, kinh tế carbon thấp.
Theo Thỏa
thuận Paris, chúng ta cần có 3 yêu cầu cơ bản về: tài chính xanh, công nghệ
xanh và tăng cường năng lực xanh.
Tại Việt
Nam, trong các kế hoạch chiến lược đã đưa ra các giải pháp: thể chế để chuyển đổi
xanh, chuyển đổi tuần hoàn; tài lực, nhân lực; hạ tầng xanh, tài chính xanh,
công nghệ xanh, năng lực xanh; tuyên truyền nâng cao nhận thức…”.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 51-52-2025 phát hành ngày 22-29/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm

–


