Phát biểu tại Vietnam Investment Forum 2026 – Summer Summit do VietnamBiz và Việt Nam Mới tổ chức chiều 11/6, ông Nguyễn Xuân Thành, Giảng viên cao cấp Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, cho rằng những cú sốc từ bên ngoài đang làm thay đổi lộ trình điều chỉnh lãi suất điều hành của các nền kinh tế lớn trên thế giới, đặc biệt là Mỹ.
Theo ông Thành, nền kinh tế Mỹ hiện vẫn cho thấy sức chống chịu khá tốt. Thị trường lao động tiếp tục phát đi tín hiệu tích cực khi số lượng việc làm phi nông nghiệp liên tục vượt dự báo của thị trường và các nhà kinh tế. Trong khi đó, lạm phát đã duy trì ở mức quanh 4,3% trong ba tháng liên tiếp.
“Quan điểm của Fed hiện nay là ít nhất trong năm nay chưa cần quá lo ngại về thị trường lao động. Điều đó giúp giảm áp lực phải điều chỉnh lãi suất điều hành theo hướng đi xuống”, ông Thành nhận định.
Ông Nguyễn Xuân Thành, Giảng viên cao cấp Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright
Theo ông Thành, yếu tố đáng quan tâm nhất hiện nay vẫn là lạm phát. Dữ liệu công bố trong đêm 10/6 cho thấy lạm phát của Mỹ ở mức 4,2%. Tuy nhiên, ngay cả khi loại trừ giá năng lượng và thực phẩm, lạm phát cơ bản vẫn ở mức 2,9%, trong bối cảnh giá năng lượng đã tăng khoảng 40%.
Từ đó, ông Thành cho rằng thị trường cần chuẩn bị cho một kịch bản thận trọng hơn đối với chính sách tiền tệ của Mỹ. Không chỉ khả năng Fed chưa thể cắt giảm lãi suất trong năm nay, mà thậm chí đến quý IV còn xuất hiện khả năng tăng thêm 25 điểm cơ bản nếu áp lực lạm phát tiếp tục kéo dài.
Trong cuộc họp sắp tới, dù đây là phiên họp đầu tiên dưới sự điều hành của Chủ tịch Fed mới, kịch bản được đánh giá có xác suất cao nhất vẫn là giữ nguyên lãi suất. Tuy nhiên, những diễn biến gần đây cho thấy Fed vẫn để ngỏ khả năng tiếp tục thắt chặt chính sách nếu lạm phát không giảm về mục tiêu như kỳ vọng.
“Nếu kịch bản này xảy ra, tác động sẽ xuất hiện ngay trên mặt bằng giá tài sản toàn cầu”, ông Thành nói và cho rằng đối với Việt Nam, mối quan ngại lớn nhất không nằm ở tăng trưởng kinh tế mà là áp lực đối với dòng vốn đầu tư quốc tế, đặc biệt là dòng vốn trên thị trường chứng khoán.
Theo ông, từ đầu năm đến nay, nhiều nền kinh tế như Hàn Quốc và Indonesia đã chịu ảnh hưởng đáng kể từ môi trường lãi suất toàn cầu duy trì ở mức cao. Đồng nội tệ mất giá trong khi dòng vốn ngoại liên tục rút khỏi các thị trường tài chính.
Tuy nhiên, diễn biến tại Việt Nam, Malaysia và Thái Lan lại có phần khác biệt. Trước khi xung đột tại Trung Đông bùng phát, đồng tiền của cả ba quốc gia đều có xu hướng tăng giá. Sau cú sốc địa chính trị và năng lượng, phần lớn mức tăng trước đó đã bị xóa nhòa, song nhìn chung các đồng tiền vẫn duy trì được sự ổn định tương đối. Trong nhóm này, đồng Việt Nam được đánh giá là một trong những đồng tiền tương đối ổn định.
Các chuyên gia chia sẻ tại hội thảo
Ông Thành cho rằng việc duy trì mặt bằng lãi suất cao là điều bắt buộc nếu muốn giữ lãi suất ở mức đủ hấp dẫn để hỗ trợ tỷ giá. Ngược lại, nếu ưu tiên mục tiêu tăng trưởng kinh tế, nhà điều hành có thể chấp nhận mức độ mất giá nhất định của đồng nội tệ.
“Đối với Việt Nam, tác động từ cú sốc lạm phát và mặt bằng lãi suất toàn cầu ở mức cao vẫn nằm trong tầm kiểm soát của cơ quan điều hành. Vấn đề là lựa chọn giữa việc hỗ trợ tỷ giá hay không duy trì lãi suất ở mức cao”, ông nói.
Theo vị chuyên gia này, định hướng điều hành hiện nay là không mong muốn nhưng chấp nhận mặt bằng lãi suất cao. Nếu tiếp tục duy trì lựa chọn này, áp lực lên tỷ giá sẽ không quá lớn. Ngược lại, nếu chuyển hướng theo hướng bơm thêm thanh khoản cho thị trường, áp lực lên tỷ giá sẽ gia tăng.
Ông Thành cho rằng thách thức hiện nay của cơ quan điều hành là vừa phải thúc đẩy tăng trưởng tín dụng nhằm hỗ trợ nền kinh tế, vừa phải kiểm soát nguồn cung tiền để bảo đảm ổn định vĩ mô và tỷ giá.
Theo đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang kiểm soát cung tiền rất chặt chẽ bởi kinh nghiệm cho thấy việc tăng thanh khoản quá mức sẽ gây áp lực lớn lên tỷ giá, trong khi dư địa sử dụng dự trữ ngoại hối để hỗ trợ tỷ giá hiện không còn nhiều.
Trong bối cảnh cung tiền tăng hạn chế nhưng mục tiêu tăng trưởng tín dụng ở mức cao, hệ số dư nợ cho vay trên vốn huy động (LDR) tại nhiều ngân hàng đã vượt 100%. Điều này khiến mặt bằng lãi suất duy trì ở mức cao và không còn nhiều dư địa để giảm thêm.
Ông Thành nhận định, Việt Nam có thể sẽ phải chấp nhận để đồng VND điều chỉnh và mất giá ở một mức độ nhất định nhằm tránh thắt chặt quá mức, trong khi vẫn duy trì mặt bằng lãi suất phù hợp thông qua các biện pháp điều hành đối với tổ chức tín dụng.
Ông cũng nhấn mạnh rằng trên thực tế cần có một mức lãi suất tiền gửi đủ hấp dẫn để người dân tiếp tục nắm giữ tiền Đồng. Trong hệ thống ngân hàng, tiền gửi dân cư vẫn đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động tín dụng.
Đối với tăng trưởng tín dụng, ông cho rằng có thể nới cho một số ngành, lĩnh vực ưu tiên, song tốc độ tăng trưởng tín dụng chắc chắn sẽ chậm hơn năm trước. Đây cũng là định hướng phù hợp với yêu cầu bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô.
“Không chỉ trong dài hạn mà ngay cả trong ngắn hạn, chúng ta cũng phải hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao bằng cách tìm kiếm các động lực tăng trưởng mới, thay vì dựa vào những động lực có thể gây bất ổn vĩ mô”, ông nói.
Ông Thành cũng bày tỏ kỳ vọng giá vàng sẽ tiếp tục duy trì ở vùng thấp hoặc giảm thêm. Theo ông, tại Việt Nam, khi giá vàng tăng sẽ tạo áp lực lên thị trường ngoại hối và tỷ giá. Ngược lại, trong bối cảnh giá vàng giảm, người dân có xu hướng bán vàng nhiều hơn thay vì mua vào, qua đó góp phần hỗ trợ tỷ giá.
“Nếu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không chịu áp lực lớn về tỷ giá thì sẽ có thêm dư địa để nới lỏng chính sách tiền tệ, từ đó giúp mặt bằng lãi suất giảm xuống”, ông Thành nhận định.
Nguồn:cafef.vn

