PV: Ông có thể cho biết một số điểm mới quan trọng của Nghị định số 119/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 242/2025/NĐ-CP về quản lý và sử dụng ODA và các khoản vay ưu đãi?
![]() |
| Ông Hoàng Hải |
Ông Hoàng Hải: Việc ban hành Nghị định số 119 là bước tiếp theo trong quá trình hoàn thiện thể chế, sau khi Chính phủ đã trình Quốc hội thông qua 2 luật rất quan trọng, gồm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý nợ công và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điều ước quốc tế.
Hai luật này đã thực hiện phân cấp, phân quyền rất mạnh mẽ cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, cũng như các bộ, ngành và địa phương trong quá trình quyết định các chương trình, dự án sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi. Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính đã xây dựng, báo cáo và trình Chính phủ để ban hành Nghị định nhằm cụ thể hóa các nội dung đã được Quốc hội thông qua, đặc biệt là các quy định về quy trình, thủ tục, hồ sơ và thẩm quyền, qua đó rút ngắn thời gian triển khai.
Nghị định 119 có 6 điểm mới, bao gồm: Sửa đổi, bổ sung quy định Đề xuất khoản vay; Sửa đổi thủ tục đàm phán, ký kết điều ước quốc tế, thỏa thuận vay ODA, vay ưu đãi; Sửa đổi quy định xác định cơ chế tài chính vốn ODA, vay ưu đãi; Sửa đổi quy định dừng sử dụng vốn vay ODA, vay ưu đãi; Sửa đổi các quy định về viện trợ không hoàn lại; Sửa đổi các quy định về quản lý tài chính vốn ODA, vay ưu đãi.
Trước đây, theo Nghị định 242/2025/NĐ-CP, các dự án ODA phải thực hiện bước “đề xuất dự án”, với rất nhiều quy trình, thủ tục và phải xin ý kiến nhiều bộ, ngành, nhiều vòng. Thực tế lâu nay có quan niệm rằng việc triển khai các dự án ODA và vay ưu đãi chậm, một trong những nguyên nhân chính là do khâu đề xuất dự án, chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư phải qua nhiều cấp, nhiều khâu.
Vì vậy, Bộ Tài chính đã tham mưu để chuyển từ “đề xuất dự án” sang “đề xuất khoản vay”. Theo đó, cơ quan chủ quản hoặc doanh nghiệp nhà nước khi có nhu cầu vay vốn sẽ báo cáo Thủ tướng Chính phủ thông qua Bộ Tài chính. Bộ Tài chính chỉ đánh giá về khía cạnh tài chính của khoản vay, không cần lấy ý kiến các bộ, ngành khác.
Căn cứ vào quyết định của Thủ tướng Chính phủ cho phép tiếp cận khoản vay, các cơ quan chủ quản hoặc doanh nghiệp sẽ thực hiện các bước tiếp theo như phê duyệt chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư dự án.
Ngoài ra, trước đây việc sửa đổi các hiệp định vay đều phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ hoặc Chủ tịch nước. Hiện nay, đối với các sửa đổi không làm phát sinh nghĩa vụ nợ của Chính phủ, thẩm quyền đã được giao cho Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định. Điều này giúp giảm đáng kể thời gian và thủ tục.
Bên cạnh đó, các quy định liên quan đến đàm phán, ký kết điều ước quốc tế cũng được điều chỉnh phù hợp với Luật Điều ước quốc tế, theo hướng phân cấp mạnh hơn cho Thủ tướng Chính phủ.
Tóm lại, rất nhiều khâu, bước đã được đơn giản hóa, phân cấp mạnh, nhằm bảo đảm việc triển khai các dự án ODA được thực hiện nhanh hơn, thuận lợi hơn.
![]() |
| Nguồn: Bộ Tài chính. Đồ họa: Phương Anh |
PV: Việc cải cách này giúp rút ngắn thời gian triển khai như thế nào, thưa ông?
Ông Hoàng Hải: Nghị định 119 trực tiếp giải quyết các vướng mắc chính được xác định trong thực tiễn, đặc biệt là: Thủ tục rườm rà và chồng chéo trong đàm phán và ký kết các hiệp định quốc tế; Chậm trễ trong việc thẩm định và phê duyệt các đề xuất vay vốn; Quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình hạn chế ở cấp địa phương.
Trước đây, riêng khâu đề xuất dự án đã mất rất nhiều thời gian do phải xin ý kiến các bộ, ngành liên quan, phụ thuộc vào việc dự án có nằm trong quy hoạch hay không. Chúng tôi đánh giá, một dự án nhanh nhất cũng phải mất khoảng 6 tháng cho khâu này. Hiện nay, với quy trình “đề xuất khoản vay”, thời gian có thể rút xuống dưới 1 tháng. Đây là thay đổi rất lớn.
PV: Định hướng thu hút và sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi trong thời gian tới sẽ như thế nào, thưa ông?
Ông Hoàng Hải: Hiện nay Việt Nam đã là nước thu nhập trung bình và đang hướng tới mức thu nhập trung bình cao, do đó các điều kiện vay sẽ ngày càng kém ưu đãi hơn, tiệm cận với điều kiện thị trường. Vì vậy, việc vay và trả nợ phải được cân nhắc kỹ lưỡng để bảo đảm phù hợp với khả năng huy động vốn và khả năng trả nợ.
Việc huy động và phân bổ nguồn vốn sẽ được thực hiện với quy mô và cơ cấu hợp lý, đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển của quốc gia, ngành và địa phương. Trong đó, nguồn vốn được ưu tiên bố trí cho các dự án trọng điểm, có tác động lan tỏa.
Theo định hướng, chúng tôi sẽ tập trung vào các dự án có tính chuyển đổi, có khả năng lan tỏa cao và có hàm lượng khoa học công nghệ lớn hơn. Các lĩnh vực ưu tiên bao gồm hạ tầng kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. Đây là những lĩnh vực có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn tới.
PV: Ông có thể chia sẻ thêm về quy mô huy động vốn ODA trong thời gian qua và dự kiến thời gian tới?
Ông Hoàng Hải: Giai đoạn 2021 – 2025, kế hoạch vốn ODA khoảng 300.000 tỷ đồng, tuy nhiên thực hiện thấp hơn do nhu cầu vốn chưa cao. Trong giai đoạn 2026 – 2030, nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế là rất lớn, phục vụ mục tiêu tăng trưởng cao. Bộ Tài chính ước tính tổng vốn huy động ODA và vay ưu đãi khoảng 1,35 triệu tỷ đồng, tức là cao gấp khoảng 7 – 8 lần so với giai đoạn trước.
Để thực hiện được, Bộ Tài chính sẽ đa dạng hóa các kênh huy động vốn. Ngoài các khoản vay cho dự án, còn có các khoản vay hỗ trợ ngân sách nhà nước, có thể giải ngân nhanh và bổ sung trực tiếp nguồn ngoại tệ cho ngân sách.
PV: Xin cảm ơn ông!
Đẩy mạnh cải cách, nâng cao năng lực thực hiện dự án sử dụng vốn ODATheo ông Nguyễn Bá Hùng – Chuyên gia Kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam, việc ban hành Nghị định 119 là bước đi nhanh chóng nhằm hiện thực hóa các sửa đổi trong hệ thống pháp luật liên quan đến đầu tư công và vay nước ngoài. Nghị định tiếp tục xu hướng cải cách theo hướng đơn giản hóa thủ tục và phân cấp mạnh mẽ hơn cho các địa phương, đơn vị chủ quản dự án. Nhờ đó, các đơn vị có thể chủ động hơn trong việc chuẩn bị và triển khai dự án. Với việc thay thế “đề xuất dự án” bằng “đề xuất khoản vay” nhằm đơn giản hóa quy trình phê duyệt. Qua đó, thời gian xử lý thủ tục được rút ngắn so với trước đây. Thay đổi này vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, nhưng đồng thời rút ngắn thời gian chuẩn bị và phê duyệt. Dự kiến, thời gian chuẩn bị dự án có thể giảm khoảng 1 – 2 tháng. Trong giai đoạn tới, ADB ghi nhận mục tiêu tăng trưởng cao của Việt Nam và khẳng định sẵn sàng đồng hành trong việc xây dựng, chuẩn bị và triển khai các dự án. Theo đánh giá ban đầu, ADB có thể tài trợ khoảng 12 tỷ USD cho Việt Nam trong giai đoạn 2026 – 2030. |




