Điều 23 Thông tư số 33/2026/TT-BTC (Thông tư 33) nêu rõ, Bộ Tài chính có trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện các quy định về chế độ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam theo quy định tại Điều 10 Luật Bảo hiểm tiền gửi, nhằm hoàn thiện chế độ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam. Đồng thời, chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành tổng kết, đánh giá việc thực hiện Thông tư này để sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế khi cần thiết.
Bộ Tài chính cũng phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc rà soát kế hoạch tài chính, giao các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động và xếp loại cho Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam; đồng thời phối hợp xử lý các vấn đề tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam theo quy định của pháp luật.
![]() |
| Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam có trách nhiệm bảo toàn vốn khi thực hiện hoạt động đầu tư. Ảnh minh họa. |
Điều 4 Thông tư 33 quy định về nguồn vốn hoạt động và nguyên tắc sử dụng vốn của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam. Theo đó, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam được sử dụng nguồn vốn để phục vụ hoạt động theo quy định của pháp luật. Thông tư cũng nhấn mạnh nguyên tắc: việc sử dụng vốn của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đảm bảo bảo toàn vốn khi thực hiện hoạt động đầu tư và gia tăng nguồn vốn hoạt động.
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam có trách nhiệm bảo toàn vốn khi thực hiện hoạt động đầu tư, trừ một số nguyên nhân khách quan bất khả kháng ảnh hưởng đến vốn và thu nhập quy định.
“Mọi biến động về tăng, giảm vốn tại Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam phải báo cáo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Tài chính để theo dõi, giám sát” – khoản 1 Điều 5 Thông tư 33 nêu rõ.
Một điểm đáng chú ý là quy định giới hạn đầu tư tài sản cố định. Tổng giá trị tài sản cố định, bao gồm cả đầu tư mới, không được vượt quá 30% vốn chủ sở hữu tại thời điểm gần nhất. Việc đầu tư, mua tài sản cố định phải đảm bảo minh bạch, tiết kiệm, hiệu quả, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với quy mô của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam và trong phạm vi kế hoạch năm được Hội đồng Quản trị phê duyệt.
Định kỳ hằng năm, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam phải đánh giá mức độ bảo toàn vốn. Trường hợp kết quả hoạt động theo báo cáo tài chính năm của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam phát sinh chênh lệch thu chi âm (bao gồm trường hợp còn âm chênh lệch thu chi lũy kế) thì được xác định là Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam chưa bảo toàn được vốn.
Tại Chương III về thu nhập, chi phí, Thông tư 33 yêu cầu toàn bộ các khoản thu, chi phải có đầy đủ chứng từ, được hạch toán đầy đủ và xác định bằng đồng Việt Nam. Trường hợp phát sinh bằng ngoại tệ phải quy đổi theo quy định.
“Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam phải tính đúng, tính đủ chi phí hoạt động, tự trang trải mọi khoản chi bằng các khoản thu của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam” – khoản 3 Điều 13 nêu rõ.
Cơ cấu nguồn thu được quy định gồm 3 nhóm chính: thu từ hoạt động nghiệp vụ bảo hiểm tiền gửi, thu từ hoạt động đầu tư và thu từ các hoạt động khác. Trong đó, các khoản thu đáng chú ý bao gồm lãi từ đầu tư, thu từ cho thuê tài sản, thu từ chuyển nhượng tài sản, thu từ cho vay đặc biệt từ quỹ dự phòng nghiệp vụ và thu từ trái phiếu dài hạn của tổ chức tín dụng nhận chuyển giao bắt buộc.
Ở chiều chi, Thông tư 33 nêu rõ danh mục chi tiết các khoản chi, bao gồm chi nghiệp vụ, chi đầu tư, chi cho người lao động, chi quản lý và các khoản chi khác.
“Chi dự phòng rủi ro (bao gồm cả chi dự phòng đối với trái phiếu dài hạn của tổ chức tín dụng nhận chuyển giao bắt buộc) thực hiện theo quy định của pháp luật về trích lập và xử lý các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, tổn thất các khoản đầu tư, nợ phải thu khó đòi và bảo hành sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, công trình xây dựng tại doanh nghiệp” – Thông tư 33 nêu./.
|
Phân phối chênh lệch thu chi theo thứ tự ưu tiên Đối với phân phối chênh lệch thu chi, theo Điều 17 Thông tư 33, trước hết là bù đắp chênh lệch thu nhỏ hơn chi của các năm trước. Phần chênh lệch thu chi còn lại sau khi trừ các khoản quy định tại khoản 1 nêu trên được phân phối theo thứ tự. Theo đó, trích không quá 10% vào quỹ đầu tư phát triển; mức tối đa của quỹ này không vượt quá mức vốn điều lệ của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam. Trích không quá 5% vào quỹ dự phòng tài chính; mức tối đa của quỹ này không vượt quá 20% mức vốn điều lệ. Trích quỹ khen thưởng, phúc lợi để chỉ cho công tác khen thưởng, hoạt động phúc lợi của người lao động, Hội đồng Quản trị, Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc và các chức danh quản lý khác theo quy định của pháp luật. Hội đồng Quản trị quyết định phân phối chênh lệch thu chi tài chính hàng năm của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam sau khi có ý kiến chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. |




