Vượt qua “những cơn gió ngược” năm 2025 với mức tăng trưởng GDP dự kiến đạt 8,01%, Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa của giai đoạn 2026-2030 với mục tiêu tăng trưởng hai con số. Nền kinh tế cần một “cú hích” khổng lồ về vốn và một sự cải thiện mạnh mẽ về năng suất.


Năm 2025,
sự lãnh đạo sâu sát của Đảng cùng sự điều hành quyết liệt, chủ động từ Chính phủ,
kinh tế Việt Nam đã vượt qua những “cơn gió ngược” trước bối cảnh kinh tế thế
giới phục hồi chậm, phân mảnh thương mại gia tăng, xung đột địa chính trị kéo
dài, rủi ro tài chính – tiền tệ toàn cầu hiện hữu và trước những ảnh hưởng
nghiêm trọng từ thiên tai, bão lũ.
Nhiều quyết
sách quan trọng đã được đưa ra. Bộ Chính trị đã ban hành 7 nghị quyết lớn, quan
trọng, Quốc hội đã thông qua 47 luật, 8 nghị quyết ngay tại kỳ họp thứ 10, Quốc
hội khóa XV, Chính phủ đã ban hành và trình ban hành một loạt các dự án luật và
các văn bản quy phạm pháp luật, đánh dấu một bước đột phá về thế chế, chính
sách và khung khổ pháp luật.

Một dấu mốc
quan trọng nữa là công cuộc “sắp xếp lại giang sơn” và nỗ lực đổi mới mô hình tổ
chức chính quyền địa phương hai cấp, nỗ lực thúc đẩy phát triển mạnh mẽ cơ sở hạ
tầng với hàng loạt các dự án chiến lược quy mô lớn, quan trọng, có tính lan tỏa
và định hình cho tương lai được triển khai.
Nhờ đó,
tăng trưởng GDP năm 2025 ước đạt khoảng 8,01% (theo tính toán của Nhóm nghiên cứu
Ban Chính sách, chiến lược Trung ương với các số liệu đến thời điểm hiện tại),
thuộc nhóm cao trong khu vực và trên thế giới.
Công nghiệp
tiếp tục giữ vai trò động lực, dẫn dắt tăng trưởng kinh tế với mức tăng đạt khoảng
9,1%, đóng góp 2,72 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP. Đặc biệt, công nghiệp
chế biến, chế tạo phục hồi mạnh, tăng trưởng khoảng 9,74%, đóng góp khoảng 2,3
điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP, nhờ sự phục hồi của các ngành xuất khẩu chủ
lực và sự gia tăng dòng vốn FDI chất lượng cao.
Khu vực dịch
vụ tăng tốc rõ nét với tăng trưởng đạt khoảng 8,05%, đóng góp 3,56 điểm phần
trăm vào tăng trưởng GDP, nhiều ngành đạt mức tăng trưởng hai con số, phản ánh
sự phục hồi của cầu nội địa, du lịch, thương mại và các dịch vụ giá trị gia
tăng cao.
Lĩnh vực xây dựng tăng trưởng cao, đạt khoảng
11%, đóng góp 0,73 điểm phần trăm, nhờ đầu tư công và các dự án hạ tầng chiến
lược quy mô lớn được đẩy mạnh. Nông nghiệp tiếp tục là trụ đỡ ổn định, tăng trưởng
tích cực, đạt khoảng 3,92%, trong bối cảnh chịu tác động của nhiều đợt thiên
tai, bão lũ.
Một điểm rất
tích cực của năm 2025 là sự phục hồi đồng bộ của các yếu tố tăng trưởng phía cầu.
Theo tính toán của Nhóm nghiên cứu, tiêu dùng, xuất nhập khẩu, tích lũy tài sản
cố định đều đạt được mức tăng trưởng rất ấn tượng so với các giai đoạn trước.
Trong đó, tiêu dùng cuối cùng dự kiến đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 8,07%, đóng
góp 5,13 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP. Thu nhập cải thiện, lạm phát được
kiểm soát tạo nền tảng cho sức mua trong nước.
Xuất nhập
khẩu đạt tốc độ tăng trưởng cao dù chịu nhiều áp lực từ các chính sách thuế
quan thương mại, quy mô thương mại đạt mức kỷ lục gần 900 tỷ USD, đưa Việt Nam
tiếp tục nằm trong nhóm 20 nền kinh tế thương mại hàng đầu thế giới. Tích lũy
tài sản tăng mạnh cùng với dòng vốn đầu đầu tư lớn. Tốc độ tăng trưởng tích lũy
tài sản 2025 đạt khoảng 8,5%, đóng góp 3,06 điểm phần trăm trong tăng trưởng
GDP.

Tổng vốn đầu
tư phát triển tăng mạnh, ước khoảng 13,5%. Trong đó, đầu tư công giữ vai trò dẫn
dắt, quy mô vốn đầu tư công thực hiện dự kiến đạt mức rất cao, khoảng gần 900
nghìn tỷ đồng, tăng 28,6% so với năm 2024, tập trung vào các dự án hạ tầng chiến
lược như cao tốc Bắc – Nam, sân bay Long Thành, các cảng biển và hạ tầng năng
lượng. Tính toán của Nhóm nghiên cứu Ban Chính sách, chiến lược Trung ương cho
thấy với mức đầu tư công tăng cao năm 2025 giúp tăng trưởng kinh tế gia tăng
thêm khoảng 0,587 điểm phần trăm so với kịch bản cơ sở.
Đầu tư tư
nhân phục hồi mạnh, tăng khoảng 9,2% so với năm 2024 (mức cao nhất trong 5 năm
qua), phản ánh tiềm lực và niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp đang cải thiện.
FDI liên tục tạo các kỷ lục, giải ngân đạt mức cao, chất lượng dòng vốn tốt hơn
với khoảng 70% số vốn đăng ký mới tập trung vào lĩnh vực công nghệ cao, chip, bán
dẫn, công nghệ mới và năng lượng tái tạo.
Năng suất
lao động cải thiện mạnh, đóng góp khoảng 6,9 điểm phần trăm vào tăng trưởng
GDP. Đặc biệt, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) tăng cao, đạt tốc độ tăng
khoảng 3,76%, đóng góp gần 47% vào tăng trưởng năm 2025 – mức cao so với giai
đoạn trước, phản ánh sự chuyển dịch tích cực của mô hình tăng trưởng, với năng
suất, hiệu quả gia tăng rõ nét.
Ổn định
kinh tế vĩ mô tiếp tục được giữ vững. Lạm phát bình quân năm 2025 được kiểm
soát ở mức 3,2–3,5%, nhờ sự điều hành linh hoạt, phù hợp, cùng với sự hỗ trợ của
xu hướng giảm giá dầu và giảm các áp lực lạm phát toàn cầu. Nợ công giảm về khoảng
35–36% GDP, thấp hơn đáng kể so với trần cho phép, củng cố an ninh tài chính quốc
gia. Tuy nhiên, tỷ giá USD/VND chịu áp lực khá lớn trong bối cảnh chênh lệch
lãi suất quốc tế. Dư nợ tín dụng ở mức cao, dự kiến tiệm cận mức 145-148% GDP.


Trên cơ sở
các đánh giá, dự báo của các tổ chức kinh tế toàn cầu, Nhóm nghiên cứu Ban
Chính sách, chiến lược Trung ương xây dựng ba kịch bản dự báo tăng trưởng kinh
tế, thương mại và đầu tư toàn cầu, gồm: kịch bản kém thuận lợi, kịch bản thuận
lợi và kịch bản rất thuận lợi. Ở cả ba kịch bản, dự báo tăng trưởng kinh tế thế
giới có thể tăng nhẹ, đạt mức 2,9-3,3%/năm, song chưa vững chắc, đà phục hồi diễn
ra chậm chạp.
Cường độ của
các rủi ro địa chính trị, xu hướng bảo hộ thương mại và quá trình tái định hình
chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ tiếp tục gây sức ép lên triển vọng thương mại và đầu
tư toàn cầu. Áp lực nợ công và lạm phát toàn cầu ngày càng rõ nét. Bên cạnh đó,
một số xu hướng mới đang hình thành và tác động đến kinh tế toàn cầu, như xu hướng
hình thành các FTA và các cơ chế hợp tác khu vực mới và xu hướng tăng mạnh đầu
tư phát triển và kiểm soát, chống thất thoát công nghệ chiến lược ở một số quốc
gia.
Kinh tế Việt
Nam, theo đó, đứng trước nhiều cơ hội và thách thức đan xen. Trong đó, Việt Nam
có cơ hội lớn để đón nhận làn sóng dịch chuyển đầu tư chất lượng cao, đặc biệt
trong các lĩnh vực công nghệ, năng lượng xanh, kinh tế số và công nghiệp hỗ trợ.
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ tạo cơ hội cho Việt Nam “bắt nhịp” bứt phá
phát triển.
Cạnh tranh
chiến lược thúc đẩy các quốc gia tìm kiếm đối tác mới, tạo điều kiện cho Việt
Nam tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu,
không chỉ lắp ráp mà còn ở các khâu có giá trị cao hơn như RD, thiết kế,
marketing. Vấn đề then chốt là khả năng
tận dụng các cơ hội đó, thông qua cải cách thể chế, nâng cao năng lực cạnh tranh
và chất lượng nguồn nhân lực.
Tuy nhiên,
Nhóm nghiên cứu cũng nhận diện và chỉ ra một số thách thức rất lớn đối với Việt
Nam. Đó là, mô hình tăng trưởng của chúng ta mặc dù đã có nhiều đổi mới nhưng
nhìn chung vẫn chưa giải quyết được sự thay đổi căn bản. Mô hình tăng trưởng
thương mại theo chiều rộng khiến Việt Nam chịu nhiều áp lực rủi ro cao từ rào cản
thuế quan của các nước. Việt Nam cũng là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng
nghiêm trọng từ biến đổi khí hậu.
Bên cạnh
đó, nguy cơ “bị bỏ lại phía sau” nếu quá trình “bắt nhịp”, “đón bắt” các công
nghệ không thành công. Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao, nhu cầu huy động
nguồn lực tài chính là rất lớn. Trong khi Việt Nam vẫn tiếp tục đối mặt với một
số vấn đề mang tính cấu trúc, nội tại của nền kinh tế.


Trên cơ sở
phân tích, đánh giá đầy đủ các yếu tố tác động, các điều kiện nền tảng cho tăng
trưởng và phát triến kinh tế, Nhóm Nghiên cứu Ban Chính sách, chiến lược Trung
ương đưa ra ba kịch bản tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2026- 2030, gồm:
(1) Kịch bản cơ sở, giả định duy trì xu hướng phát triển
hiện tại, chưa tạo được đột phá mạnh mẽ về thể chế, năng suất và các điều kiện
về nguồn lực phát triển. Dự báo tăng trưởng GDP đạt khoảng 7,5%/năm, lạm phát ở
mức dưới 4%; quy mô GDP đến năm 2030 đạt khoảng 21,9 triệu tỷ đồng, GDP bình
quân đầu người dự báo đạt mức 7.500 USD.
(2) Kịch bản chuyển tiếp, giả định có sự cải thiện rõ nét
hơn các điều kiện phát triển, huy động nguồn lực cho đầu tư tăng trưởng tăng
cao, công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ chất lượng cao và chuyển đổi số
tăng mạnh. Theo đó, tốc độ tăng trưởng GDP có thể đạt khoảng 8,5%/năm, lạm phát
duy trì khoảng 4%; quy mô GDP đến năm 2030 ước đạt khoảng 23,1 triệu tỷ đồng;
GDP bình quân đầu người ước đạt 7.800 USD.
(3) Kịch bản mục tiêu, yêu cầu tăng trưởng hai con số,
khoảng 10%/năm; lạm phát dự kiến ở mức 4-4,5%; quy mô GDP đến năm 2030 ước đạt
24,6 triệu tỷ đồng; GDP bình quân đầu người dự báo đạt mức 8.500 USD. Điều kiện
tiên quyết ở kịch bản này là sự bứt phá về mọi mặt: cải cách thể chế, vốn đầu
tư, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng suất.


Để đạt được
mục tiêu tăng trưởng hai con số, đòi hỏi sự cải thiện mạnh mẽ ở cả ba khu vực.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản cần duy trì mức tăng trưởng khá cao,
3,5%/năm so với mức tăng trưởng cơ sở khoảng 3%/năm. Đây là áp lực rất là lớn
trong thời gian tới đối với lĩnh vực nông nghiệp. Khu vực công nghiệp – xây dựng
cần tăng trưởng mạnh, khoảng 12,4%/năm, trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo
bứt phá, tăng trưởng khoảng 12,9%/năm và lĩnh vực xây dựng tăng trưởng đột phá ở
mức 12,5%/năm nhờ đẩy mạnh đầu tư công – so với mức tăng trưởng cơ sở lần lượt
là 8,7%/năm; 9,3%/năm và 8,5%/năm. Khu vực dịch vụ được thúc đẩy mạnh mẽ bởi
các dịch vụ chất lượng cao và các dịch vụ giá trị gia tăng cao, với tốc độ tăng
trưởng đạt 9,5%/năm so với mức cơ sở khoảng 7,5%/năm.
Sử dụng
các công cụ định lượng và phân tích dữ liệu Bảng I/O, Nhóm Nghiên cứu xác định
17 ngành, lĩnh vực động lực/ưu tiên (chiếm trên 70% GDP toàn nền kinh tế), dựa
trên hai nhóm tiêu chí: (1) Ngành có mức độ lan tỏa đến giá trị gia tăng toàn nền
kinh tế cao; (2) Ngành có quy mô lớn, ảnh hưởng mạnh đến tăng trưởng kinh tế
(theo xu hướng hiện nay). Trên cơ sở đó, chia thành bốn nhóm ngành, tương ứng với
bốn nhóm định hướng phát triển, gồm:
Nhóm ngành dẫn dắt: gồm các ngành, lĩnh vực có độ lan
tỏa cao, quy mô lớn, như tài chính – ngân hàng; năng lượng; bán buôn, bán lẻ; vận
tải, kho bãi và logistics; nông, lâm, thủy sản.
Nhóm ngành cần thúc đẩy: gồm các ngành có độ lan tỏa mạnh,
nhưng quy mô nhỏ, có triển vọng tăng trưởng mạnh, đó là RD và hoạt động
khoa học, công nghệ; du lịch và lưu trú; dịch vụ ăn uống; bất động sản.

Nhóm ngành cần nâng cấp chất lượng
và vị thế trong chuỗi giá trị: trong
đó đặc biệt bao gồm nhóm ngành công nghệ số như điện tử, máy vi tính và sản phẩm
quang học, viễn thông; xây dựng; sản xuất kim loại và sản phẩm kim loại. Những
ngành này hiện nay có đóng góp lớn trong GDP. Một số ngành xuất khẩu cao nhưng
nhập khẩu rất lớn, giá trị gia tăng đóng góp trong nước còn thấp, đòi hỏi phải
nâng cao chất lượng, gia tăng vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Nhóm ngành nền tảng, tạo việc làm: gồm nhóm ngành sản xuất, chế biến
thực phẩm; dệt may; da giày và sản phẩm liên quan; sản xuất hóa chất, sản phẩm
hóa chất. Mặc dù độ lan tỏa tới giá trị gia tăng toàn nền kinh tế còn hạn chế,
song đây là nhóm ngành có khả năng giải quyết vấn đề căn cốt về việc làm trong
tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 – 2030.
Tính toán
chi tiết của Nhóm nghiên cứu cho thấy các ngành động lực nêu trên phải có các
điều chỉnh rất lớn, tăng trưởng rất thực chất mới có thể đóng góp, thúc đẩy mức
tăng trưởng chung 10%/năm của cả nước. Trong đó, lĩnh vực bán buôn, bán lẻ phải
điều chỉnh tăng trưởng tới 3,2 điểm phần trăm so với kịch bản cơ sở, từ mức
7,6%/năm (kịch bản cơ sở) lên 10,8% (kịch bản mục tiêu), tương ứng mức điều chỉnh
3,4 điểm phần trăm so với tăng trưởng bình quân giai đoạn 2021-2025 (7,4%/năm);
đạt mức đóng góp 1,03 điểm phần trăm trong tăng trưởng GDP toàn nền kinh tế.
Lĩnh vực
năng lượng với mức điều chỉnh 3,7 điểm phần trăm so với kịch bản cơ sở. Lĩnh vực
vận tải, kho bãi và logistics với mức điều chỉnh 2 điểm phần trăm so với kịch bản
cơ sở. Lĩnh vực điện tử, máy tính, sản phẩm quang học điều chỉnh mạnh với mức
tăng thêm 4 điểm phần trăm so với kịch bản cơ sở và 4,4 điểm phần trăm so với mức
tăng trưởng khá cao hiện nay (10,6%/năm),…
Kinh nghiệm
thực tiễn từ các quốc gia trong giai đoạn tăng trưởng cao chỉ ra rằng nhu cầu về
vốn để duy trì đà phát triển là vô cùng lớn.
Để đạt được
mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức 10%/năm, đồng thời giảm mạnh hệ số ICOR từ
6,5 xuống 4,7 – tương ứng với sự gia tăng đột phá hiệu quả sử dụng vốn, kết quả
tính toán cho thấy, tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển trong 5 năm tới khoảng
1.463 tỷ USD (tương đương 38,6 triệu tỷ đồng – gấp khoảng 2,1 lần giai đoạn
2021-2025), chiếm khoảng 40,01% GDP, trung bình mỗi năm cần khoảng 292,6 tỷ
USD.


Cơ cấu nguồn
vốn được định hướng phân bổ dựa trên các trụ cột chính: Đầu tư từ khu vực nhà
nước chiếm khoảng 29%, trong đó, đầu tư công là 22,2% (khoảng 8,58 triệu tỷ đồng);
đầu tư từ khu vực FDI khoảng 218 tỷ USD, chiếm khoảng 15,0% – là một yêu cầu
khá thách thức trong bối cảnh hiện nay; đầu tư từ khu vực tư nhân phải đảm
đương tới 56,0% tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển.
Xem xét
các kênh cung ứng vốn cho nền kinh tế cho thấy vốn tín dụng ngân hàng hiện vẫn
là kênh dẫn vốn lớn nhất, chiếm tỷ trọng từ 48-50%; tiếp sau là đầu tư công
(16-18%); FDI (15-16%); trái phiếu doanh nghiệp và IPO (12-13%) và cuối cùng là
vốn tự có của doanh nghiệp tư nhân và nguồn khác (khoảng 4-5%). Có thể thấy mô
hình dẫn vốn dựa vào hệ thống ngân hàng (bank-based) khá rõ. Kênh dẫn vốn qua
thị trường vốn còn quá khiêm tốn, chưa thực hiện tốt vai trò kênh dẫn vốn dài hạn
của nền kinh tế.
Tính toán
của Nhóm nghiên cứu cho thấy hệ số tương quan giữa dư nợ tín dụng và tổng vốn đầu
tư phát triển khá lớn, lên tới 4,5-5. Giả định, tương quan này vẫn tiếp diễn
trong 2026-2030, với mục tiêu tăng trưởng 10%/năm, nhu cầu vốn đầu tư tương
đương 40% GDP, khi đó nhu cầu vốn tín dụng tăng mạnh, dẫn tới dư nợ tín dụng có
thể lên đến 180-200%GDP – ẩn chứa nhiều rủi ro, gây áp lực mạnh lên hệ thống
ngân hàng và ổn định kinh tế vĩ mô.
Theo đó,
yêu cầu đặt ra là cần có sự kiểm soát chặt chẽ dòng vốn tín dụng nhằm gia tăng
tỷ lệ vốn sử dụng vào sản xuất hay gia tăng tỷ lệ tạo lập tài sản cố định; đồng
thời, định hướng các chính sách, giải pháp chiến lược để kích thích khu vực
doanh nghiệp, nhà đầu tư huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán và các
quỹ nhằm giảm áp lực với tín dụng ngân hàng.
Một vấn đề
cốt lõi cần được xem xét kỹ lưỡng đó là khả năng hấp thụ vốn thực tế của nền
kinh tế. Mặc dù dự thảo Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết về tăng trưởng
hai con số đặt mục tiêu tổng vốn đầu tư toàn xã hội ở mức 40% GDP, nhưng các
tính toán định lượng cho thấy hiệu quả chuyển đổi vốn còn hạn chế. Tính toán
ban đầu của Nhóm nghiên cứu cho thấy để đạt được mục tiêu tăng trưởng như kỳ vọng,
tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần huy động phải ở mức cao hơn, cần khoảng 47% GDP
thay vì 40% như dự kiến hiện nay. Điều này đặt ra yêu cầu cấp bách về việc phải
tính toán chính xác tỷ lệ vốn thực sự hấp thụ vào sản xuất để tạo ra tăng trưởng
thực chất.
Bên cạnh
nguồn lực tài chính, mục tiêu tăng trưởng 10%/năm còn phụ thuộc chặt chẽ vào việc
nâng cao năng suất nội tại. Trong bối cảnh tốc độ tăng trưởng lao động đang có
xu hướng chậm lại, áp lực đóng góp từ các nhân tố tổng hợp (TFP) là rất lớn. Kết
quả tính toán của Nhóm nghiên cứu chỉ ra rằng để đủ sức hiện thực hóa mục tiêu
10%/năm, đóng góp của TFP phải đạt trên 57% và năng suất lao động xã hội phải
tăng trưởng mạnh mẽ trên mức 8,7% mỗi năm.


Nhằm tháo
gỡ những nút thắt lớn nhất, khơi thông các điểm nghẽn cho quá trịnh hiện thực
hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, Nhóm nghiên cứu Ban Chính sách, chiến lược
Trung ương đề xuất bốn nhóm giải pháp chính.
Thứ nhất, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô
trong mọi tình huống, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn là một yêu cầu
quan trọng. Đánh giá các kịch bản lạm phát cho thấy lạm phát và kỳ vọng lạm
phát ổn định ở mức thấp là một điều kiện quan trọng để duy trì tăng trưởng
nhanh và bền vững trong giai đoạn 2026-2030.
Kịch bản
thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế 10%/năm đòi hỏi lạm phát duy trì ổn định
khoảng 4%/năm. Nếu lạm phát cao sẽ làm giảm ý nghĩa của tăng trưởng kinh tế và
người dân không được hưởng thành quả tương xứng từ tăng trưởng kinh tế. Ổn định
lạm phát sẽ tạo điều kiện cho các cải cách thể chế kinh tế và giúp tín hiệu
phân bổ nguồn lực trên thị trường ít bị “méo mó”, đồng thời thúc đẩy phát triển
dịch vụ tài chính – ngân hàng.
Phối hợp đồng
bộ, hiệu quả giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trên cơ sở “phân
vai” cụ thể hơn.
Theo đó,
chính sách tài khóa tập trung vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thông qua thúc
đẩy giải ngân đầu tư công vào các lĩnh vực trọng điểm, có tính lan tỏa cao, các
dự án chiến lược, liên kết vùng; tăng chi chuyển giao hỗ trợ tiêu dùng của người
dân; giảm thuế hỗ trợ cho các ngành gắn với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; hỗ
trợ tiêu dùng của hộ gia đình.
Chính sách
tiền tệ linh hoạt, chặt chẽ, tập trung vào ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm
phát và phối hợp hiệu quả với chính sách tài khóa. Thực hiện truyền thông chính
sách về ổn định lạm phát và ổn định tỷ giá; điều tiết cung tiền hợp lý gắn với
mặt bằng lãi suất phù hợp, bảo đảm lãi suất thực dương ít nhất 1%/năm. Duy trì
tăng trưởng tín dụng hợp lý (khoảng 15-18%) gắn với phân bổ tín dụng tập trung
vào các ngành sản xuất; thử nghiệm có kiểm soát các cơ chế tín dụng cho các
lĩnh vực mới (tín dụng xanh, tín dụng dựa trên quyền sở hữu trí tuệ); rà soát
và tăng cường tính độc lập tương đối của Ngân hàng Nhà nước,…

Thứ hai, thay đổi mạnh mẽ cách thức huy động
nguồn lực tài chính cho nền kinh tế. (1) Thúc đẩy huy động tài chính trên thị
trường vốn, thông qua phát hành trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu chính phủ
và cổ phiếu, nhằm cân bằng với vai trò huy động vốn dài hạn qua hệ thống ngân
hàng (bank-based) hiện nay, với một số yêu cầu cụ thể: nâng hạng tín nhiệm quốc
gia (lên mức Investment Grade) – rất quan trọng với huy động vốn quốc gia và
thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Đa dạng sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm mới
(cố phiếu doanh nghiệp công nghệ số; doanh nghiệp dịch vụ (du lịch, giải trí,
truyền thông). Thực hiện mục tiêu nâng hạng thị trường mới nổi MSCI. Có khung
khổ quy định, cở mở hơn về tài sản đảm bảo trong phát hành TPDN.
(2) Phát
triển ngành quỹ trên cơ sở có sự thay đổi tư duy, nhìn nhận đúng vai trò của
ngành quỹ đối với thị trường vốn và nền kinh tế. Bổ sung, xây dựng, điều chỉnh
quy định pháp luật liên quan, tạo khung khổ thể chế để phát triển ngành quỹ.
Phát triển một số loại hình quỹ phổ biến như: các quỹ mở, quỹ hưu trí tự nguyện,
quỹ hạ tầng, quỹ thúc đẩy kinh tế tư nhân/quỹ phát triển doanh nghiệp đổi mới
sáng tạo, các quỹ đầu tư quốc gia, quỹ chuyển đổi xanh…
(3) Thực
hiện huy động vốn thông qua một số kênh huy động mới, như: thí điểm thị trường
carbon; trung tâm tài chính quốc tế; thị trường tài sản mã hóa. Có tư duy mở
hơn đối với các định chế cho vay tổng hợp – cấp tín dụng dưới dạng kênh huy động
vốn trung, dài hạn.
Thứ ba, tháo gỡ vướng mắc về chính sách.
Trong đó, (1) cần đơn giản hóa các thủ tục, đảm bảo hỗ trợ nhanh, gọn cho doanh
nghiệp. Đặc biệt, (2) cần sớm thể chế hóa các chính sách để tháo gỡ khó khăn
cho các dự án tồn đọng, chậm triển khai ở các địa phương. Hiện nay Bộ Chính trị
đã có Kết luận 182-KL/TW nhưng ở các địa phương vẫn còn rất vướng. (3) Gỡ vướng
cho các quỹ khoa học địa phương. Hiện nay các quỹ khoa học địa phương đến tháng
11/2025 mới chỉ giải ngân khoảng 585 tỷ đồng, con số quá thấp so với yêu cầu;
quỹ đầu tư cũng chưa phát huy hiệu quả.
Mô hình quỹ
khoa học, công nghệ của các địa phương phải có sự thay đổi, cải tiến thì mới
đưa được nguồn vốn hiện có vào trong khoa học, công nghệ của các địa phương. Vận
hành mô hình quỹ khoa học, công nghệ phải có đổi mới về tư duy và chính sách đột
phá, có cơ chế PPP mới trong khoa học, công nghệ.

Thứ tư, làm mới các động lực tăng trưởng
truyền thống, kích thích các động lực tăng trưởng mới. (1) Thay đổi chiến lược
và mô hình xuất khẩu. Thực hiện tiến quân vào thị trường bằng các chương trình
“Go globle” cụ thể, đồng thời thay đổi phương thức hỗ trợ doanh nghiệp trong xuất
khẩu, thông qua hỗ trợ thị trường, logistic, bảo hiểm, tư vấn và hỗ trợ kết nối
với các tập đoàn đa quốc gia.
(2) Lựa chọn
các dự án lớn, động lực của các địa phương. (3) Có chiến lược phát triển phù hợp
với các ngành kinh tế động lực, trong đó, thúc đẩy phát triển các ngành các
ngành dẫn dắt, các ngành có khả năng lan tỏa cao, như du lịch, RD, logistics,
năng lượng, tài chính – ngân hàng. Nâng cấp chất lượng, giá trị gia tăng các
ngành điện tử, công nghiệp công nghệ số; dệt may, da giày; chế biến thực phẩm…
Trong giai đoạn đầu tăng trưởng cao, cho phép thúc đẩy các ngành trong lĩnh vực
xây dựng, bất động sản.
(4) Thúc đẩy
phát triển các mô hình kinh tế mới, các ngành kinh tế mới. Trong đó, hoàn thiện
cơ chế thử nghiệm để hỗ trợ phát triển các ngành kinh tế mới như kinh tế không
gian vũ trụ, kinh tế tầm thấp,… các mô hình kinh tế mới, kinh tế số, kinh tế
xanh và kinh tế tuần hoàn. Xây dựng cơ chế, chính sách khai thác không gian vũ
trụ, không gian ngầm, không gian biển. Phát triển công nghiệp đường sắt, công
nghiệp ứng dụng năng lượng nguyên tử, lượng tử.
Xây dựng
các chương trình, đề án nghiên cứu khoa học có tính đột phá đối với 11 nhóm
công nghệ chiến lược; xây dựng các cơ sở nghiên cứu và phát triển các ngành
công nghiệp công nghệ cao như điện tử, chíp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo.
(5) Các giải
pháp khác: khai thác tốt không gian tăng trưởng mới; phát triển mạnh thị trường
trong nước, kích cầu tiêu dùng thông các hội chợ quy mô lớn về thương mại, công
nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; phát huy vai trò các khu thương mại tự do, Trung
tâm tài chính quốc tế trong thu hút vốn đầu tư, công nghệ.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 51-52-2025 phát hành ngày 22-29/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm

–




