Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa và chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, giáo dục đại học đứng trước yêu cầu cấp thiết phải liên tục đổi mới để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của xã hội và nền kinh tế tri thức.
Cuộc
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với sự phát triển bùng nổ của trí tuệ nhân tạo,
dữ liệu lớn, Internet vạn vật và công nghệ số, đã và đang làm thay đổi sâu sắc
cách thức con người học tập, làm việc và tương tác. Trước bối cảnh đó, giáo dục
đại học không chỉ đóng vai trò đào tạo nguồn nhân lực mà còn trở thành một mắt
xích quan trọng trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.
Nhà nước và xã hội ngày càng quan tâm đến chất lượng đào tạo
cũng như năng lực đổi mới sáng tạo của các cơ sở giáo dục đại học. Điều này thể
hiện qua các chính sách thúc đẩy tự chủ đại học, khuyến khích nghiên cứu, chuyển
giao tri thức và hợp tác giữa nhà trường với doanh nghiệp, Nhà nước và cộng đồng.
Bên cạnh đó, sự chuyển dịch từ mô hình “đào tạo truyền thống” – vốn chú trọng
kiến thức lý thuyết, sang mô hình “giáo dục khai phóng và sáng tạo” – nhấn mạnh
đến tư duy phản biện, năng lực giải quyết vấn đề, kỹ năng liên ngành và khả
năng thích ứng, đang định hình lại phương thức tổ chức dạy và học trong các trường
đại học.
Trước những yêu cầu mới, các cơ sở giáo dục đại học buộc phải
trở thành trung tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nơi nuôi dưỡng tinh thần khởi
nghiệp, phát triển các ý tưởng sáng tạo, kết nối nghiên cứu với thực tiễn và
đóng góp thiết thực vào sự phát triển bền vững của quốc gia.
Theo tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, cả nước hiện có 244
cơ sở giáo dục đại học, trong đó 172 cơ sở giáo dục đại học công lập (26 cơ sở
giáo dục đại học trực thuộc các địa phương); 67 cơ sở giáo dục đại học ngoài
công lập (5 cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài). Ngoài ra, còn có
20 trường cao đẳng sư phạm (3 trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, 17 trực thuộc
các địa phương).
CÁC XU HƯỚNG ĐỔI MỚI SÁNG TẠO NỔI BẬT
Thứ nhất, chuyển đổi số toàn diện trong quản lý và giảng dạy.
Đây là xu hướng tất yếu trong giáo dục đại học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
và hiệu quả quản lý. Các trường đã ứng dụng hệ thống quản lý học tập (LMS), phần
mềm ERP và các nền tảng trực tuyến để tổ chức giảng dạy, đánh giá và quản trị đại
học. Mô hình học tập kết hợp (blended learning), MOOCs và lớp học ảo được triển
khai rộng rãi, giúp sinh viên học tập linh hoạt và chủ động hơn. Trí tuệ nhân tạo
(AI) được tích hợp để cá nhân hóa nội dung học, trong khi dữ liệu lớn (Big
Data) hỗ trợ phân tích hành vi người học và cải tiến chương trình đào tạo.
Thứ hai, quốc tế hóa giáo dục và hợp tác liên ngành. Quốc tế
hóa giáo dục đang trở thành một trong những chiến lược trọng tâm của nhiều trường
đại học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và khả năng cạnh tranh toàn cầu. Các
cơ sở giáo dục tích cực thiết lập mối quan hệ hợp tác với các trường đại học,
viện nghiên cứu và doanh nghiệp quốc tế thông qua các chương trình liên kết đào
tạo, nghiên cứu chung và chuyển giao công nghệ.
Nhiều trường triển khai chương trình song bằng, đẩy mạnh
trao đổi sinh viên và giảng viên quốc tế, đồng thời tăng cường giảng dạy các
môn chuyên ngành bằng tiếng Anh. Bên cạnh đó, xu hướng hợp tác liên ngành cũng
phát triển mạnh mẽ, với việc tích hợp các lĩnh vực như công nghệ, xã hội, kinh
doanh và môi trường vào chương trình giảng dạy và nghiên cứu.
Đại học Quốc gia Hà Nội là một trong những đơn vị tiên phong
tái cấu trúc chương trình và tổ chức đào tạo nhằm thích ứng với bối cảnh hội nhập,
tập trung phát triển năng lực công nghệ cho sinh viên và rút ngắn thời gian đào
tạo. Nhà trường định hướng đẩy mạnh đào tạo trong lĩnh vực STEM và các ngành kỹ
thuật – công nghệ, với mục tiêu nâng tỷ lệ tuyển sinh nhóm ngành này lên 65%
trong 3 năm tới (hiện gần 50%).
Trong chiến lược chuyển đổi số, Đại học Quốc gia Hà Nội đặc
biệt coi trọng ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI), triển khai mô
hình blended learning và tích hợp AI vào hệ thống giảng dạy, đánh giá, cá nhân
hóa lộ trình học tập. Đặc biệt, AI hỗ trợ phát triển năng lực tối đa cho sinh
viên tài năng và khuyến khích họ sớm tham gia nghiên cứu khoa học. Bên cạnh việc
trang bị kỹ năng mềm và ngoại ngữ, nhà trường thúc đẩy giảng dạy AI nhằm xây dựng
năng lực số cốt lõi, giúp sinh viên hội nhập quốc tế hiệu quả sau khi tốt nghiệp.
Thứ ba, thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo
trong sinh viên. Thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo đang trở
thành một trọng tâm trong chiến lược phát triển của nhiều trường đại học. Các
cơ sở giáo dục đã thành lập trung tâm đổi mới sáng tạo, không gian làm việc
chung (co-working space) và vườn ươm khởi nghiệp nhằm hỗ trợ sinh viên hình
thành và phát triển ý tưởng kinh doanh. Nhiều cuộc thi khởi nghiệp, chương
trình hackathon, bootcamp và hoạt động mentoring được tổ chức thường xuyên, tạo
môi trường trải nghiệm và cọ xát thực tế cho sinh viên.
Thứ tư, giáo dục khai phóng và phát triển năng lực toàn diện.
Thay vì tập trung vào truyền đạt kiến thức một chiều, chương trình đào tạo hiện
nay chuyển sang phát triển các năng lực cốt lõi như tư duy phản biện, sáng tạo,
giải quyết vấn đề và kỹ năng làm việc nhóm. Đồng thời, các trường chú trọng lồng
ghép nội dung về nhân cách, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội vào các học
phần, nhằm hình thành tư duy công dân toàn cầu và ý thức phụng sự cộng đồng cho
sinh viên.
Thứ năm, đổi mới chương trình và phương pháp đào tạo theo hướng
bền vững. Trong bối cảnh toàn cầu hướng tới phát triển bền vững, nhiều trường đại
học đã chủ động đổi mới chương trình và phương pháp đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu
của xã hội hiện đại. Một trong những xu hướng nổi bật là việc tích hợp các mục
tiêu phát triển bền vững (SDGs) vào nội dung giảng dạy, giúp sinh viên hiểu rõ
vai trò của bản thân trong việc giải quyết các vấn đề về môi trường, xã hội và
kinh tế. Đồng thời, các phương pháp giảng dạy truyền thống đang dần được thay
thế bằng học tập qua dự án (project-based learning), học qua trải nghiệm thực tế
và học qua giải quyết vấn đề (problem-based learning).
Những phương pháp này giúp sinh viên phát triển tư duy phản
biện, khả năng làm việc nhóm và giải quyết các tình huống phức tạp trong thực
tiễn.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 2-2026 phát hành ngày 12/1/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-02-2026.htm

-TS.Bùi Thị Quyên – TS.Đào Thị Hà Anh*




