Thị trường tài sản mã hóa trên thế giới đang phát triển như một xu thế không thể đảo ngược trong dòng chảy tài chính mới, Việt Nam cũng đang có chiến lược riêng trong tiến trình xây dựng chính sách và định hướng phát triển loại thị trường này…
Trên thế giới, các quốc gia có cách tiếp cận khác nhau đối với thị trường tài sản mã hóa. Trung Quốc, từ năm 2017, đã cấm toàn bộ các hoạt động liên quan đến tài sản mã hóa, coi đây là hoạt động bất hợp pháp. Tuy nhiên, Trung Quốc lại đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng blockchain quốc gia và triển khai tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương. Ngược lại, Mỹ thể hiện tinh thần khá cởi mở với thị trường này, thông qua việc thông qua Đạo luật GENIUS nhằm khuyến khích phát triển stablecoin cho khu vực tư nhân, dù vẫn thận trọng với tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương.
Nhiều quốc gia châu Á như Thái Lan, Singapore hay Nhật Bản theo đuổi mô hình “trung dung” hơn, thí điểm có kiểm soát và đánh giá rủi ro trước khi mở rộng phạm vi thị trường. Thái Lan là ví dụ tiêu biểu với cơ chế sandbox kéo dài nhiều năm trước khi luật hóa.
Đặt trong bối cảnh đó, lựa chọn chính sách của Việt Nam đến thời điểm hiện tại đã phản ánh rõ quan điểm thận trọng nhưng không bảo thủ. Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP về việc triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam, song cũng không mở cửa ồ ạt như các trung tâm tài chính đã có năng lực quản lý và mức độ trưởng thành thị trường cao.
Quan điểm của Chính phủ không đưa ra cách thức là không quản lý được thì cấm và cũng không đưa ra cách thức là tìm cách bóp nghẹt sự phát triển của chuyển đổi số, của các doanh nghiệp về công nghệ và các hoạt động của thị trường tài sản mã hóa”, ông Tô Trần Hòa, Phó trưởng ban thường trực Ban quản lý Thị trường giao dịch tài sản mã hóa, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đã nhấn mạnh tại Đối thoại “Pháp lý mở đường và mô hình phát triển thị trường tài sản số Việt Nam” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức mới đây.
Một điểm đáng chú ý trong Nghị quyết 05 là chưa mở ngay thị trường sơ cấp cho doanh nghiệp trong nước phát hành tài sản mã hóa tới nhà đầu tư trong nước. Điều này nhằm tránh rủi ro lạm dụng huy động vốn và thổi phồng dự án, đặc biệt khi nhận thức của nhà đầu tư cá nhân còn hạn chế. Thay vào đó, Việt Nam khuyến khích doanh nghiệp phát hành ra thị trường nước ngoài để huy động vốn, song song với việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, đào tạo trong nước.
Theo lãnh đạo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, giải pháp căn cơ vẫn là xây dựng một khung pháp lý toàn diện cho thị trường tài sản mã hóa, bao gồm luật chuyên ngành, các nghị định và thông tư hướng dẫn, tiệm cận với thông lệ quốc tế. Trong khi chờ đợi khung pháp lý ở cấp độ cao hơn, các điều kiện cấp phép cho các tổ chức cung cấp dịch vụ tham gia thí điểm được thiết kế theo hướng chặt chẽ, đảm bảo an toàn, minh bạch và năng lực quản lý trong giai đoạn đầu.
Hiện nay, nhiều sản phẩm và dịch vụ như giao dịch phái sinh, giao dịch ký quỹ hay cho vay ngang hàng vẫn chưa được đưa vào quy định. Tuy nhiên, khi tiến tới xây dựng luật chuyên ngành, Việt Nam không chỉ hoàn thiện không gian lập pháp mà còn mở rộng không gian phát triển thị trường, cho phép doanh nghiệp cung cấp các sản phẩm, dịch vụ mới, đồng thời tạo thêm công cụ đầu tư cho người dân.
Việt Nam đang xây dựng mô hình phát triển thông qua khuôn khổ pháp lý không bóp nghẹt sự phát triển của thị trường, mà lựa chọn cách làm linh hoạt: vừa triển khai, vừa điều chỉnh, từng bước hoàn thiện thể chế song hành với sự phát triển của thị trường. Khuôn khổ pháp lý đang và sẽ được thiết kế với ưu tiên hàng đầu là bảo đảm an toàn hệ thống, đồng thời mở ra dư địa cần thiết để thị trường vận hành có trật tự, qua đó từng bước trở thành một động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế…
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 5-2026 phát hành ngày 02/02/2026. Kính mời quý độc giả tìm đọc ở đây
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5-2026.html

-Ngô Huyền




