Quy mô thí điểm tối đa dịch vụ vệ tinh Starlink tại Việt Nam là 600.000 thuê bao, tương đương chỉ khoảng 2,5% quy mô thị trường…
Liên quan đến lo ngại Starlink có thể giảm giá thành, gây mất cân bằng cạnh tranh thị trường viễn thông, ông Nguyễn Anh Cương, Phó Cục trưởng Cục Viễn thông, tại họp báo thường kỳ tháng 3 của Bộ Khoa học và Công nghệ ngày 1/4, cho hay dịch vụ này khó cạnh tranh trực tiếp với các doanh nghiệp nội địa, mà sẽ đóng đóng vai trò hỗ trợ, mở rộng vùng phủ hạ tầng Internet quốc gia.
Dịch vụ vệ tinh Starlink hiện đang trong giai đoạn thí điểm có kiểm soát về quy mô và phạm vi tại Việt Nam. Quy mô thí điểm tối đa khoảng 600.000 thuê bao, tương đương chỉ khoảng 2,5% quy mô thị trường.
“Starlink sau khi được cấp phép cung cấp dịch vụ viễn thông tại Việt Nam có trách nhiệm tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về quản lý giá và cạnh tranh như các doanh nghiệp viễn thông khác tham gia thị trường”, ông Nguyễn Anh Cương nhấn mạnh.

Giá dịch vụ sẽ được xác định trên cơ sở chi phí, đồng thời cơ quan quản lý sẽ theo dõi sát quá trình triển khai. Trong trường hợp doanh nghiệp giảm giá gây ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh lành mạnh, cơ quan chức năng sẽ xem xét và xử lý theo quy định, nhằm đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng.
Đại diện Cục Viễn thông cũng nhấn mạnh, Starlink được xem là một mảnh ghép bổ trợ cho hệ sinh thái kinh tế số, đặc biệt hữu ích tại các khu vực khó tiếp cận hạ tầng viễn thông truyền thống như vùng biển, vùng trời, cũng như trong các tình huống ứng cứu sự cố.
Trong bối cảnh hạ tầng viễn thông cố định tại Việt Nam đã phát triển mạnh, dịch vụ này khó cạnh tranh trực tiếp mà chủ yếu đóng vai trò mở rộng vùng phủ và tăng cường khả năng kết nối.
Theo phương án kinh doanh dự kiến được Starlink đưa ra, dịch vụ Starlink cho người dùng cá nhân tại Việt Nam có giá 435 USD tháng đầu tiên, trong đó tiền mua bộ thiết bị đầu cuối khoảng 350 USD, và 85 USD (2,2 triệu đồng) cho mỗi tháng tiếp theo.
Cơ quan quản lý cho hay con số chính thức sẽ được xác định khi doanh nghiệp bắt đầu cung cấp dịch vụ và tiến hành kê khai giá. Mức cuối cùng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như hoàn tất đầu tư hệ thống gateway và cân đối chi phí vận hành thực tế. Tuy nhiên, Starlink chưa công bố thời gian triển khai dịch vụ tại Việt Nam.
Dịch vụ Starlink cho người dùng cá nhân tại Việt Nam có giá 435 USD tháng đầu tiên, trong đó tiền mua bộ thiết bị đầu cuối khoảng 350 USD, và 85 USD (2,2 triệu đồng) cho mỗi tháng tiếp theo.
Cũng tại họp báo, liên quan đến lộ trình đưa Việt Nam tiến tới chỉ sử dụng duy nhất IPv6 và ngừng hoàn toàn IPv4, đại diện Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC) cho biết công nghệ này mang lại nhiều lợi ích quan trọng cho phát triển hạ tầng và dịch vụ số.
Trước hết, IPv6 giúp mở rộng không gian kết nối gần như không giới hạn nhờ kho địa chỉ khổng lồ, qua đó khắc phục tình trạng thiếu hụt địa chỉ và giảm độ trễ. Đây cũng là điều kiện nền tảng để tiến tới mỗi người dân có một địa chỉ số riêng.
Bên cạnh đó, IPv6 góp phần xây dựng một hạ tầng mạng “phẳng”, tối ưu hiệu suất khi loại bỏ các lớp trung gian vốn gây phức tạp và làm chậm tốc độ. Kết nối đầu cuối – đầu cuối được tăng cường, giúp cải thiện tốc độ truy cập và độ ổn định của Internet tại Việt Nam.
Về bảo mật, giao thức IPv6 được thiết kế với các tính năng bảo mật tích hợp và khả năng định danh thiết bị chính xác hơn, qua đó hỗ trợ hiệu quả cho công tác quản trị mạng và phòng chống tấn công mạng.
Đối với sự phát triển của Internet thế hệ mới, IPv6 đóng vai trò nền tảng cho các công nghệ như Internet vạn vật (IoT), xe tự hành hay Internet công nghiệp, cho phép kết nối trực tiếp hàng tỷ thiết bị.
Đáng chú ý, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 3369 ngày 27/10/2025 phê duyệt Chương trình chuyển đổi sang IPv6-only giai đoạn 2026–2030, thể hiện quyết tâm thúc đẩy hạ tầng Internet thế hệ mới, qua đó phục vụ tiến trình chuyển đổi số quốc gia.
-Bạch Dương




