Ngày 15/11 vừa qua, kim ngạch thương mại của Việt Nam chính thức cán mốc 801 tỷ USD, vượt xa dự báo của Bộ Công Thương và đưa Việt Nam vào top 15 quốc gia có kim ngạch thương mại lớn nhất thế giới. Con số này cho thấy sức bật mạnh mẽ của nền kinh tế, đặc biệt ở khu vực xuất khẩu – nơi các ngành như điện tử, dệt may, gỗ, nông sản… đều ghi nhận đơn hàng tăng trở lại…
Ông
Nguyễn Tuấn Việt, Tổng giám đốc Công ty Xúc tiến Xuất khẩu VIETGO, lạc quan nhận định, tổng kim ngạch xuất khẩu
riêng năm 2025 dự kiến đạt 450 – 500 tỷ USD, tương đương hoặc vượt GDP năm
2024. Đây là chỉ số rất đặc biệt mà rất ít quốc gia trên thế giới đạt được.
Hiện nhiều nhóm hàng vẫn còn dư địa tăng trưởng mạnh như cà phê (chuẩn bị cán mốc
10 tỷ USD), dệt may, đồ gỗ, đến hàng tiêu dùng và vật liệu xây dựng. Vì vậy, theo
ông Việt, 2025 sẽ là năm bản lề, đưa Việt Nam tiến gần mốc thương mại 1.000 tỷ
USD.
Việc
tiệm cận và tiến vào “Câu lạc bộ 1.000 tỷ USD” là một cột mốc có ý nghĩa lịch sử,
đây không chỉ là bước tiến về số lượng, mà là bước tiến về vị thế quốc gia.
Trước đây, Top 15 là sân chơi gần như cố định của những cường quốc thương mại như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc, Singapore. Việc Việt Nam bước vào nhóm này khẳng định rằng chúng ta không còn là nền kinh tế “đang nổi lên”, mà đã trở thành một cường quốc xuất nhập khẩu đúng nghĩa.

Cũng
theo Tổng giám đốc Công ty Xúc tiến Xuất khẩu VIETGO, sự hội nhập sâu rộng
thông qua mạng lưới FTA thuộc hàng lớn nhất thế giới cũng giúp doanh nghiệp Việt
có nhiều cơ hội để phát triển mạnh hơn.
Chính
phủ tạo điều kiện rất tốt về hành lang pháp lý, ổn định chính trị, ngoại giao
kinh tế. Từ đó, doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam đều tăng trưởng mạnh.
Doanh
nghiệp Việt hiện không còn chỉ làm OEM hay gia công. Nhiều sản phẩm nông sản, thực
phẩm chế biến, đồ gỗ, hàng tiêu dùng, thậm chí vật liệu xây dựng… đã đạt chất
lượng xuất khẩu cao và có thương hiệu riêng. Đây là sự thay đổi rất quan trọng
để Việt Nam không chỉ gia tăng lượng, mà còn gia tăng chất trong xuất khẩu.
Mặc
dù kim ngạch thương mại năm 20205 có những kết quả rất khả quan, các doanh nghiệp
sản xuất, chế biến, xuất khẩu đang dần lấy lại phong độ nhưng vấn đề về nguồn
nhân lực đang thực sự trở thành rào cản lớn.
Ông
Nguyễn Công Cường, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công
nghiệp chủ lực Hà Nội (HAMI), cho biết thành phố hiện có hơn 100 doanh nghiệp
có sản phẩm công nghiệp chủ lực, tạo việc làm cho hàng chục nghìn lao động,
đóng góp quan trọng vào tăng trưởng GRDP và khẳng định vị thế công nghiệp của
Thủ đô.
Sản
phẩm công nghiệp chủ lực Hà Nội là những sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị
trường trong và ngoài nước, sản xuất trên dây chuyền thiết bị có trình độ công
nghệ ngang tầm khu vực.
Tuy
nhiên, các doanh nghiệp này đang đứng trước những thách thức không nhỏ như yêu
cầu đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, tự động hóa, hội nhập quốc tế… Trong bối
cảnh đó, nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành yếu tố quyết định sự phát triển
bền vững của doanh nghiệp.
Thực
tế cho thấy, nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp còn thiếu kỹ năng thực hành,
chưa thông thạo ngoại ngữ, chưa quen với dây chuyền sản xuất hiện đại, doanh
nghiệp phải đào tạo lại trước khi sử dụng. Đây chính là khoảng cách giữa đào tạo
và nhu cầu thực tế cần các bên cùng tháo gỡ.
Theo
Hiệp hội HAMI, cộng đồng doanh nghiệp công nghiệp chủ lực của Hà Nội mong muốn
có được nguồn nhân lực chuyên sâu, sẵn sàng tham gia ngay vào dây chuyền sản xuất,
làm chủ công nghệ mới và thích ứng nhanh với những thay đổi của thị trường lao
động trong thời đại số.
Trả
lời báo chí trong cuộc tọa đàm mới đây, bà Nguyễn Võ Minh Thư, Phó Trưởng ban quản
lý các khu chế xuất – khu công nghiệp (KCX – KCN) TPHCM, nhận định khoảng
cách giữa kỳ vọng của người lao động và nhu cầu tuyển dụng thực tế của doanh
nghiệp đang trở thành nguyên nhân lớn dẫn đến nghịch lý “cung – cầu” trên thị
trường.
Trong
khi dư địa nguồn nhân lực trên thị trường rất lớn, nhưng doanh nghiệp lại tuyển
mãi không đủ người.
Theo
ông Dương Việt Linh, Giám đốc kinh doanh Việc Làm Tốt, khảo sát của đơn vị cho
thấy, có tới 69% doanh nghiệp tham gia khảo sát cho hay đang gặp phải vấn đề
thiếu hụt lao động, trong đó 18% thiếu hụt trầm trọng. 31% nhân sự chuyển sang
hình thức bán thời gian, làm việc từ xa, lao động tự do.
Lý
do chuyển đổi là người lao động muốn đa dạng nguồn thu nhập để đảm bảo kinh tế;
có thời gian gắn bó gia đình. Điều này tác động đến hoạt động sản xuất, kinh
doanh của doanh nghiệp.
-Song Hoàng




