Tại Diễn đàn “Tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy phát triển nguyên liệu bền vững cho ngành gỗ chế biến sâu”, tổ chức chiều 23/7, các chuyên gia gọi đây là “nút thắt” lớn nhất cản trở mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm chế biến gỗ của khu vực.
Rừng trồng ngắn ngày, nút thắt của ngành chế biến sâu
Năm 2025, gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam đã có mặt tại hơn 160 quốc gia và vùng lãnh thổ, đạt kim ngạch xuất khẩu trên 17 tỷ USD, đưa Việt Nam đứng thứ 5 thế giới về xuất khẩu gỗ và thứ 2 thế giới về nhóm sản phẩm đồ gỗ có giá trị gia tăng cao.
Đà tăng trưởng tiếp tục được duy trì trong nửa đầu năm 2026. Theo Cục Hải quan (Bộ Tài chính), 6 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt khoảng 8,6 tỷ USD, tăng 4,9% so với cùng kỳ, bất chấp nhiều thị trường lớn vẫn chịu tác động của rào cản thương mại và chi phí logistics.
Theo ông Bùi Trung Nghĩa, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), sau gần ba thập kỷ phát triển, ngành chế biến gỗ không chỉ đóng góp lớn vào tăng trưởng xuất khẩu mà còn tạo việc làm cho hàng triệu lao động và là một trong số ít ngành có tỷ lệ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị rất cao.
Nhưng đằng sau những con số đó là một mô hình kinh tế rừng đang bộc lộ giới hạn. Sản xuất hiện vẫn chủ yếu dựa vào trồng rừng chu kỳ ngắn để làm dăm gỗ và nguyên liệu sinh khối. Cách làm giúp người trồng rừng thu hồi vốn nhanh, nhưng khiến nguồn gỗ lớn phục vụ chế biến sâu ngày càng khan hiếm, làm giảm giá trị gia tăng của toàn chuỗi ngành hàng.
Theo các chuyên gia, phần lớn hộ trồng rừng vẫn chọn khai thác sau 4-5 năm thay vì kéo dài lên 7-10 năm, do áp lực vốn, nhu cầu dòng tiền và rủi ro thiên tai. Đây chính là gốc rễ của nghịch lý khi ngành gỗ xuất khẩu lớn nhưng vẫn thiếu nguyên liệu chất lượng cao.
Không chỉ chịu sức ép từ cách trồng rừng trong nước, ngành gỗ còn đối mặt với một áp lực khác đến từ chính các thị trường xuất khẩu. Ông Nguyễn Văn Diện, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết nếu trước đây doanh nghiệp cạnh tranh chủ yếu bằng giá thì nay yếu tố quyết định lại là tính hợp pháp, minh bạch và bền vững của nguồn nguyên liệu.
Các thị trường nhập khẩu ngày càng quan tâm đến việc gỗ có truy xuất được nguồn gốc hay không, có chứng chỉ quản lý rừng bền vững, có gây mất rừng hoặc suy thoái rừng hay không, cũng như lượng phát thải carbon trong suốt quá trình sản xuất. Đây chính là những “hộ chiếu xanh” quyết định khả năng tiếp cận các thị trường lớn.
Đặc biệt, việc Liên minh châu Âu triển khai Quy định chống mất rừng (EUDR), cùng các quy định tương tự của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều quốc gia khác, đang tạo ra một mặt bằng tiêu chuẩn hoàn toàn mới cho ngành.
Hai áp lực này cộng dồn lên chính các doanh nghiệp chế biến. Ông Phạm Đình Thắng, Giám đốc Công ty TNHH Triệu Thái Sơn, cho biết ngành gỗ đang chịu sức ép cùng lúc từ cả thị trường xuất khẩu và nguồn cung nguyên liệu trong nước.
Trong khi Mỹ và EU liên tục siết chặt các biện pháp phòng vệ thương mại, yêu cầu minh bạch nguồn gốc và chống gian lận thương mại, thì trong nước, tình trạng khai thác keo non vẫn diễn ra khá phổ biến, khiến doanh nghiệp chế biến sâu thiếu nguyên liệu sản xuất.
Theo ông Thắng, để khuyến khích người dân kéo dài chu kỳ trồng rừng, cần có chính sách tín dụng ưu đãi, giúp hộ trồng rừng tiếp cận vốn lãi suất thấp, giảm áp lực phải khai thác sớm; đồng thời cần rà soát chính sách thuế giữa các nhóm sản phẩm gỗ để tạo động lực phát triển chế biến sâu.
Rừng gỗ lớn, giải pháp giữ vững thị trường xuất khẩu
Các chuyên gia dự Diễn đàn cho rằng, nếu biết tận dụng xu hướng tiêu dùng xanh, chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn và kinh tế carbon, Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng thành trung tâm chế biến gỗ xanh, trung tâm cung ứng nguyên liệu hợp pháp và trung tâm sản xuất nội thất chất lượng cao của khu vực và thế giới.
Nhưng điều kiện tiên quyết, theo họ, là phải giải quyết tận gốc bài toán nguyên liệu vừa nêu. Bởi thách thức lớn nhất của ngành gỗ hiện nay không còn là tìm thị trường, mà là đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế.
Theo ông Nguyễn Văn Diện, đã đến lúc ngành gỗ phải chuyển từ tư duy “đủ nguyên liệu để sản xuất” sang “nguyên liệu hợp pháp, minh bạch và bền vững”; từ mục tiêu “xuất khẩu nhiều” sang “xuất khẩu giá trị cao”; từ “bán gỗ” sang phát triển hệ sinh thái sản phẩm nội thất và thương hiệu.
Đồng quan điểm, ông Bùi Trung Nghĩa cho rằng dư địa tăng trưởng của ngành trong giai đoạn tới sẽ không còn đến từ mở rộng quy mô mà phải dựa trên chất lượng tăng trưởng, năng suất và khả năng thích ứng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu; phát triển vùng nguyên liệu gỗ lớn chất lượng cao, vì vậy, là điều kiện tiên quyết để ngành chế biến gỗ phát triển bền vững.
Ông Ngô Sỹ Hoài, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST), khẳng định thiếu nguồn gỗ lớn đang là “nút thắt” lớn nhất của ngành chế biến sâu. Bên cạnh sự mất cân đối giữa các vùng nguyên liệu, nhiều địa phương vẫn chủ yếu canh tác rừng theo hướng khai thác ngắn ngày.
“Chúng ta cần có các chính sách về quy hoạch để mở rộng vùng trồng, chấm dứt tình trạng ‘bán lúa non’ trong ngành gỗ từ người trồng rừng và doanh nghiệp”, ông Hoài trăn trở.
Ở một mốc cụ thể hơn cho phân khúc dăm gỗ và viên nén, thấp hơn ngưỡng 7-10 năm dành cho gỗ lớn nói chung, ông Hoài cho rằng nếu kéo dài chu kỳ trồng rừng từ 3-4 năm lên 6-7 năm, chất lượng nguồn gỗ cũng đã được cải thiện đáng kể, kéo theo giá trị của cả dăm gỗ lẫn viên nén gỗ.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, các chuyên gia kiến nghị quy hoạch và phát triển vùng nguyên liệu tập trung đạt chứng chỉ quản lý rừng bền vững; tăng cường liên kết giữa người trồng rừng, hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến; đồng thời hoàn thiện các chính sách về tín dụng, thuế và hỗ trợ chế biến sâu. Đúng những gì doanh nghiệp như ông Thắng đã kiến nghị từ góc độ người trực tiếp thiếu nguyên liệu.
Trong bối cảnh các tiêu chuẩn xanh đang trở thành “giấy thông hành” của hàng hóa trên thị trường quốc tế, chuyển đổi từ rừng trồng chu kỳ ngắn sang phát triển gỗ lớn không chỉ giúp nâng cao giá trị kinh tế của mỗi hecta rừng, mà còn là chìa khóa để ngành gỗ Việt Nam giữ vững lợi thế cạnh tranh và tham gia bền vững vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Hồng Hương
Nguồnvnbusiness.vn



