Hội nghị cập nhật quy định an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS) trong khuôn khổ EVFTA và UKVFTA, tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 24/7, đã chỉ ra một thực tế mà nhiều doanh nghiệp nông sản Việt Nam chưa quen. Vào được thị trường Liên minh châu Âu chỉ là bước khởi đầu, còn ở lại thị trường ấy mới là bài toán khó.
Liên minh châu Âu là thị trường xuất khẩu nông lâm thủy sản lớn thứ 3 của Việt Nam, sau Trung Quốc và Hoa Kỳ. Theo Hiệp hội Rau quả Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu rau quả sang EU năm 2025 đạt 477 triệu USD, tăng 52% so với năm 2024; thị trường Vương quốc Anh đạt 55 triệu USD. Nhưng trong 6 tháng đầu năm 2026, EU đã ban hành 74 thông báo thay đổi biện pháp SPS, gấp hơn 10 lần con số mà phía Việt Nam đưa ra trong cùng kỳ, và cao hơn hẳn số thông báo của cùng kỳ năm 2025.
Ông Ngô Xuân Nam, Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam, gọi đây là “xu thế gia tăng các biện pháp SPS thể hiện rất rõ ở số liệu thống kê”. Trong khi đó, Vương quốc Anh lại đi ngược chiều khi số thông báo giảm từ 22 xuống 15 trong cùng giai đoạn, và một số mức dư lượng tối đa (MRL) mà Anh áp dụng còn được nới lỏng, có trường hợp tăng gấp hàng trăm lần so với EU cho cùng một hoạt chất.
Ông Nam cảnh báo doanh nghiệp không được suy diễn máy móc: “không có nghĩa rằng chúng ta xuất khẩu được vào EU thì cũng xuất khẩu được sang Anh quốc” cho cùng một sản phẩm, bởi mỗi thị trường, thậm chí mỗi cây trồng, lại có một ngưỡng riêng.
Quy định giữa các nước EU cũng bắt đầu có khác biệt. Trước đây một biện pháp SPS của EU áp dụng đồng loạt cho cả 27 thành viên, nhưng gần đây Pháp đã tự ban hành quy định tạm đình chỉ đối với dư lượng của 5 hoạt chất, trong đó có 2 hoạt chất vẫn nằm trong danh mục được phép sử dụng ở Việt Nam.
“Hàng Việt Nam vào EU nhưng chưa chắc đã lưu thông được trong 27 nước thành viên”, ông Nam nói, đồng thời cho biết Văn phòng SPS đã kiến nghị phía EU xem xét lại quy định riêng của Pháp trong các phiên làm việc song phương.
Khi 0,01 phần triệu trở thành luật chơi mặc định
Bà Vũ Thị Huế, đại diện Cục Chất lượng chế biến và Phát triển thị trường, và tiến sĩ Phan Thị Thu Hiền, Giám đốc Trung tâm Kiểm dịch thực vật sau nhập khẩu 2, cùng chỉ ra một cơ chế mà nhiều doanh nghiệp bỏ sót. Khi một hoạt chất chưa được EU thiết lập MRL cho một loại nông sản cụ thể, mức áp dụng mặc định rơi về 0,01 mg/kg, một ngưỡng mà theo bà Hiền là “rất là thấp”, gần như tương đương với việc cấm sử dụng.
Ví dụ được nêu tại hội nghị là dự thảo siết mức dư lượng của một loạt hoạt chất, trong đó với propamocarb trên cà chua, Việt Nam hiện quy định 10 ppm nhưng EU dự kiến giảm xuống chỉ còn 0,01 đến 0,05 ppm.
“Cà chua trồng ở Việt Nam với mức dư lượng hoạt chất này là 10 ppm thì chúng ta vẫn sử dụng tốt, nhưng quả cà chua này không thể nhập được vào EU”, ông Nam giải thích. Quy định dự kiến áp dụng khoảng một năm sau khi công bố, nghĩa là doanh nghiệp còn thời gian để điều chỉnh quy trình canh tác, nhưng cửa sổ ấy không phải là vô hạn.
Đại diện Hiệp hội CropLife Việt Nam, quy tụ các tập đoàn như BASF, Bayer, Corteva, FMC, Sumitomo, Syngenta cùng UPL, nhấn mạnh một điểm dễ gây hiểu lầm. MRL không phải là chỉ số an toàn thực phẩm, mà là một tiêu chuẩn kỹ thuật thương mại, được tính toán trên kịch bản sử dụng thuốc ở mức cao nhất rồi đối chiếu ngược với các ngưỡng độc học như ADI hay ARfD.
Vị này đưa ra một phép so sánh dễ hình dung. Khoảng cách an toàn giao thông giữa hai xe khoảng 60 mét, nhưng nếu tính theo công thức độc tính tương tự cách tính MRL thì khoảng cách an toàn phải lên tới 6.000 mét. Nói cách khác, MRL được thiết kế với biên độ an toàn rất rộng, nhưng điều đó không làm cho việc tuân thủ dễ dàng hơn với nông dân canh tác nhỏ lẻ.
Từ kinh nghiệm quốc tế, CropLife dẫn ví dụ Ấn Độ, nơi hiệp hội nho từng có hàng loạt lô hàng bị EU từ chối vì vượt MRL, đã xây dựng hệ thống theo dõi canh tác trực tuyến tích hợp blockchain, chỉ cấp chứng thư xuất khẩu khi truy xuất được đến từng lô ruộng. Kết quả là số cảnh báo gần như về 0.
Theo số liệu đại diện hiệp hội trích dẫn, số cảnh báo đối với nông sản Việt Nam xuất sang EU đã giảm gần một nửa trong năm 2025 so với năm trước.
Văn phòng SPS Việt Nam lưu ý EU không bắt buộc nông sản có nguồn gốc thực vật của Việt Nam phải có mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói; yêu cầu cốt lõi vẫn là tuân thủ quy định về an toàn thực phẩm và MRL. Dù vậy, doanh nghiệp vẫn phải kiểm soát nguồn nguyên liệu và lưu hồ sơ canh tác đủ chặt để truy xuất, giải trình khi phát sinh cảnh báo.
Từ phía doanh nghiệp, Hiệp hội Rau quả Việt Nam đề nghị tăng cường cảnh báo sớm, cập nhật dữ liệu MRL, tập huấn sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tại vùng nguyên liệu và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi sang phương thức canh tác bền vững.
Cơ quan quản lý cho biết đang rà soát, đơn giản hóa thủ tục liên quan đến mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói theo quy định trong nước, đồng thời tiếp tục hoàn thiện hướng dẫn kỹ thuật cho doanh nghiệp và địa phương.
Với thủy sản, bà Huế cho biết hiện có 510 cơ sở của Việt Nam đủ điều kiện xuất khẩu vào EU và 617 cơ sở được phép xuất sang Anh, tất cả đều nằm trong hệ thống danh sách do Cục Chất lượng chế biến và Phát triển thị trường quản lý và cập nhật hàng tháng trên hệ thống TRACES của châu Âu.
Một điểm doanh nghiệp dễ bỏ qua là toàn bộ chuỗi, từ tàu cấp đông, cơ sở thu mua đến kho lạnh, đều phải nằm trong danh sách được EU công nhận, không chỉ riêng nhà máy chế biến cuối cùng.
Với các sản phẩm có nguồn gốc thực vật, EU hiện chỉ còn kiểm soát tăng cường 4 mặt hàng của Việt Nam, giảm so với 7 mặt hàng trước đây, gồm sầu riêng với tần suất kiểm tra biên giới 20%, đậu bắp và ớt ở mức 50% kèm chứng thư phân tích tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, và thanh long ở mức 30%.
Văn phòng SPS Việt Nam cho biết đã kiến nghị EU xem xét giảm tần suất kiểm tra với thanh long vì chưa ghi nhận lô hàng vi phạm nào trong 6 tháng đầu năm.
Một vướng mắc khác nằm ở chứng thư cho nông sản xuất khẩu. Doanh nghiệp thanh long tại TP.HCM phản ánh chứng thư hiện phải dùng bản giấy và chữ ký trực tiếp, khiến việc ký, chuyển phát và điều chỉnh thông tin có thể làm chậm lô hàng tươi.
Đại diện cơ quan quản lý cho biết thủy sản đã sử dụng chứng thư số, trong khi hồ sơ đối với sản phẩm thực vật vẫn cần bản giấy theo yêu cầu hiện hành của EU. Kiến nghị chuyển sang chứng thư điện tử sẽ được tổng hợp để trao đổi với phía EU. Theo thông tin tại hội nghị, EU dự kiến áp dụng hệ thống điện tử đối với toàn bộ hồ sơ phi thuế quan từ đầu năm 2028 nếu lộ trình không thay đổi.
Rừng, dữ liệu và cuộc đua trước hạn chót 2026
Nếu MRL là bài toán ở tầng kỹ thuật canh tác, thì Quy định chống phá rừng của EU (EUDR) lại là bài toán ở tầng dữ liệu và pháp lý đất đai. Tiến sĩ Trương Tất Đơ, đại diện Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, lưu ý một hiểu lầm phổ biến.
Nghĩa vụ tuân thủ EUDR không đặt lên doanh nghiệp Việt Nam mà lên doanh nghiệp nhập khẩu tại EU, nhưng vì phần lớn nhà nhập khẩu nông sản Việt lại chính là các công ty EU, nên trên thực tế toàn bộ chuỗi cung ứng của Việt Nam vẫn chịu tác động trực tiếp kể từ ngày 30 tháng 12 năm 2026 với doanh nghiệp lớn và vừa, và từ 30 tháng 6 năm 2027 với doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. 3 ngành hàng chịu ảnh hưởng mạnh nhất là cà phê, cao su và gỗ cùng sản phẩm gỗ.
Có một tin tương đối tích cực, kể từ tháng 5 năm 2025, EU đã xếp Việt Nam vào nhóm quốc gia rủi ro thấp, đồng nghĩa với việc chỉ một tỷ lệ nhỏ các lô hàng bị kiểm tra so với nhóm rủi ro trung bình hay rủi ro cao.
Ông Đơ cho rằng đây là một phần lý do khiến giá cà phê tăng mạnh trong hai năm qua, khi hai đối thủ cạnh tranh trực tiếp là Brazil và Indonesia bị xếp vào nhóm rủi ro tiêu chuẩn, kéo theo chi phí tuân thủ cao hơn và một phần dòng chảy thương mại dịch chuyển sang Việt Nam.
Nhưng vị thế thuận lợi ấy đi kèm những khoảng trống chưa lấp đầy. Bản đồ ranh giới rừng của Việt Nam, dù đã thu thập dữ liệu từ toàn bộ 34 tỉnh thành, vẫn chưa được công bố chính thức vì còn trong giai đoạn thử nghiệm. Dữ liệu về tọa độ địa lý của từng lô sản xuất, theo ông Đơ, “rất là phân mảnh”, nằm rải rác ở cấp cục, chi cục, sở và doanh nghiệp mà chưa được hợp nhất, trong khi hiện chưa có quy định bắt buộc mỗi lô khai thác phải gắn tọa độ địa lý.
Ông cũng nhấn mạnh rằng EUDR quản lý bằng dữ liệu không gian vệ tinh, nên việc khai báo sai lệch gần như không thể giấu được: “chúng ta cũng rất khó mà nói dối được”. Về phía kế hoạch hành động cấp tỉnh, mới có 12 trên 34 tỉnh thành xây dựng xong, còn kế hoạch hành động quốc gia vẫn đang trong quá trình hoàn thiện dù đã được Chính phủ giao nhiệm vụ.
Song song với 2 mảng rủi ro kỹ thuật và pháp lý đất đai kể trên, hội nghị cũng giới thiệu công cụ nhằm rút ngắn khoảng cách thông tin. Ông Lương Phước Vinh, Tổng giám đốc Tentamus Việt Nam, một tập đoàn kiểm nghiệm chất lượng có trụ sở tại Berlin đang phục vụ hệ thống siêu thị châu Âu, giới thiệu cổng dữ liệu được xây dựng phối hợp với Văn phòng SPS Việt Nam, kết nối mã sản phẩm Việt Nam với hệ thống cảnh báo sớm của EU và Việt hóa nội dung bằng công nghệ trí tuệ nhân tạo.
Theo ông Vinh, khi một lô hàng ở châu Âu bị cảnh báo, thông tin sẽ được cập nhật về Việt Nam trong vòng 24 giờ, giúp doanh nghiệp đánh giá rủi ro trước khi xuất hàng, thay vì đối diện với việc bị trả lại hoặc tiêu hủy tại cảng.
Văn phòng SPS Việt Nam cho biết Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã giao đơn vị phụ trách chuyển đổi số xây dựng cơ sở dữ liệu SPS phục vụ doanh nghiệp và người sản xuất. Trong đề án đang được hoàn thiện, một bộ phận phân tích và dự báo cũng được đề xuất để khai thác dữ liệu, cảnh báo sớm và tham mưu chính sách; mạng lưới đầu mối SPS tại 34 tỉnh, thành phố đã được thiết lập để tiếp nhận và chuyển thông tin đến địa phương.
Với các tranh chấp liên quan đến kết quả kiểm tra, Văn phòng SPS Việt Nam khẳng định hồ sơ cảnh báo chính thức từ EU gửi về đều kèm thông tin lấy mẫu, kết quả kiểm nghiệm và hình ảnh. Nếu kết quả truy xuất cho thấy toàn bộ quy trình sản xuất và kiểm soát của lô hàng tuân thủ yêu cầu, doanh nghiệp có thể giải trình với cơ quan có thẩm quyền trong nước để trao đổi, đề nghị phía EU xem xét lại trường hợp cụ thể. Cơ chế này chỉ phát huy tác dụng khi doanh nghiệp lưu được bằng chứng đầy đủ từ vùng nguyên liệu đến lô hàng xuất khẩu.
Thông điệp cấp bách được các chuyên gia đưa ra tại hội nghị đều có điểm chung là tuân thủ SPS không còn là công việc ở cửa khẩu, mà phải bắt đầu từ đồng ruộng, từ việc chọn đúng thuốc, ghi đúng nhật ký, giữ đúng thời gian cách ly, đến việc lưu trữ bằng chứng có thể giải trình trong vòng 5 năm.
Cục trưởng Ngô Hồng Phong khẳng định Văn phòng SPS sẽ tiếp tục cập nhật, Việt hóa và cảnh báo sớm các thay đổi quy định, nhưng đồng thời đề nghị các địa phương và hiệp hội ngành hàng phải là kênh truyền tải cuối cùng đến từng cơ sở sản xuất. Với một thị trường mà một vi phạm của một doanh nghiệp có thể kéo theo lệnh kiểm soát cho cả ngành hàng, khác hẳn cách Trung Quốc chỉ xử lý riêng doanh nghiệp vi phạm, ranh giới giữa việc mở rộng thị phần và đánh mất một thị trường xuất khẩu chủ lực đang mong manh hơn bao giờ hết.
Thành An
Nguồnvnbusiness.vn


