Mục tiêu này được nêu trong Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, vừa được Bộ Khoa học và Công nghệ đưa ra lấy ý kiến…
Mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam có năng lực mạnh về nghiên cứu, phát triển, làm chủ và triển khai AI; thực hiện chuyển đổi toàn diện quốc gia bằng AI. AI trở thành năng lực cốt lõi được tích hợp sâu, toàn diện vào quy trình vận hành, mô hình quản trị, phương thức ra quyết định, cung cấp dịch vụ công, tổ chức sản xuất, kinh doanh và tạo giá trị mới trong khu vực công, doanh nghiệp và các ngành, lĩnh vực trọng điểm.
Chiến lược đề ra 5 nhóm mục tiêu cụ thể.
Thứ nhất, chuyển đổi quốc gia bằng AI. Việt Nam thuộc nhóm 03 nước dẫn đầu ASEAN, nhóm 30 quốc gia dẫn đầu thế giới về mức độ sẵn sàng AI theo Government AI Readiness Index.
100% bộ, ngành, địa phương ban hành và triển khai kế hoạch chuyển đổi bằng AI, trong đó xác định rõ danh mục bài toán ưu tiên, quy trình nghiệp vụ được tái thiết kế bằng AI, dịch vụ công hoặc hoạt động quản trị được tích hợp AI, chỉ tiêu kết quả, lộ trình thực hiện và trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị.
100% dịch vụ công trực tuyến toàn trình được tích hợp chức năng AI phù hợp để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp và cơ quan nhà nước.
100% trung tâm điều hành thông minh cấp tỉnh được nâng cấp theo hướng tích hợp AI phục vụ phân tích, dự báo, cảnh báo, giám sát và hỗ trợ ra quyết định.
AI đóng góp khoảng 6% GDP.
Thứ hai, về dữ liệu, mô hình và hạ tầng AI quốc gia, tổng năng lực tính toán do Nhà nước và doanh nghiệp đầu tư: 250.000 GPU H100/H200/B200 (hoặc tương đương).
Xây dựng 1 nền tảng điều phối năng lực tính toán AI quốc gia, bảo đảm cơ quan nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận tài nguyên tính toán với chi phí hợp lý.
80% cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành trong danh mục ưu tiên được chuẩn hóa, kết nối, phân quyền và sẵn sàng khai thác cho AI theo bộ tiêu chí về chuẩn dữ liệu, siêu dữ liệu, API, chất lượng dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân và an toàn thông tin.
Phát triển tối thiểu 05 mô hình AI tiếng Việt.
Thứ ba, nghiên cứu, phát triển, làm chủ công nghệ và sản phẩm AI chiến lược. Số lượng công bố khoa học quốc tế về AI tăng trung bình 10%/năm.
Số lượng đơn đăng ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế liên quan đến AI của người Việt Nam tăng trung bình 16-18%/năm; tỷ lệ khai thác thương mại các sáng chế được cấp văn bằng bảo hộ đạt 8-10%.
Có ít nhất 3 cơ sở nghiên cứu và đào tạo về AI của Việt Nam thuộc nhóm 20 cơ sở nghiên cứu và đào tạo AI dẫn đầu trong khu vực ASEAN.
Hình thành nền tảng đánh giá, kiểm thử mô hình AI tiếng Việt, gồm bộ tiêu chí, bộ dữ liệu chuẩn và công cụ đánh giá về độ chính xác, độ an toàn, khả năng giải thích, mức độ phù hợp văn hóa, khả năng chống sai lệch, chống tạo thông tin giả và tuân thủ pháp luật Việt Nam.
Nghiên cứu, phát triển, làm chủ và thương mại hóa tối thiểu 10 sản phẩm công nghệ chiến lược AI Make in Viet Nam phục vụ các bài toán trọng điểm của Việt Nam, ưu tiên khu vực công, giáo dục, y tế, pháp luật, nông nghiệp, công nghiệp, logistics, an toàn thông tin, quốc phòng và an ninh.
Hình thành tối thiểu 05 nền tảng AI dùng chung hoặc nền tảng AI chuyên ngành Make in Viet Nam có khả năng triển khai ở quy mô lớn. Tối thiểu 80% nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia về AI có sản phẩm được chuyển giao, thử nghiệm, thương mại hóa hoặc đưa vào sử dụng trong khu vực công, doanh nghiệp hoặc ngành, lĩnh vực trọng điểm.
Thứ tư, về nhân lực AI và kỹ năng AI toàn dân, hằng năm đào tạo và cấp bằng tối thiểu 10.000 cử nhân, kỹ sư, thạc sĩ, tiến sĩ thuộc lĩnh vực AI, khoa học dữ liệu và các ngành gần với AI.
Đến năm 2030, đào tạo, bồi dưỡng tối thiểu 500.000 nhân lực AI và nhân lực triển khai AI trong khu vực công, doanh nghiệp và các ngành, lĩnh vực trọng điểm, hình thành tối thiểu 50.000 chuyên gia, kỹ sư trình độ cao về phát triển, triển khai, vận hành, kiểm định và an toàn AI.
100% cán bộ, công chức, viên chức được cấp tài khoản và được đào tạo sử dụng nền tảng trợ lý AI công vụ. 100% chương trình đào tạo cử nhân, kỹ sư, thạc sĩ thuộc khối ngành STEM được tích hợp kiến thức, kỹ năng phân tích dữ liệu và AI. 70% lao động có kỹ năng sử dụng AI cơ bản.
Thứ năm, về doanh nghiệp, ngành trọng điểm và sản phẩm, giải pháp AI Make in Viet Nam, tối thiểu 70% doanh nghiệp lớn, 50% doanh nghiệp vừa, 40% doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ có chuyển đổi bằng AI ở mức phù hợp trong quản trị, sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ.
Trên 40% doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận, sử dụng nền tảng “mô hình như một dịch vụ”, tác nhân AI hoặc giải pháp AI dùng chung. Mỗi ngành, lĩnh vực trọng điểm hình thành tối thiểu 01 tác nhân AI chuyên ngành hoặc nhóm tác nhân AI chuyên ngành phục vụ vận hành, điều phối, phân tích, cảnh báo, tối ưu hóa hoặc tự động hóa quy trình. Có ít nhất 10 thương hiệu AI Việt Nam có uy tín trong khu vực và quốc tế. Có ít nhất 100 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo về AI đạt giá trị doanh nghiệp trên 1 triệu USD hoặc có sản phẩm thương mại hóa tiếp cận thị trường khu vực.
Đến năm 2045, Việt Nam thuộc nhóm 10 nước dẫn đầu châu Á về năng lực nghiên cứu, phát triển AI và chuyển đổi quốc gia bằng AI, trong đó AI là nền tảng vận hành chủ đạo của Nhà nước, nền kinh tế và xã hội. Việt Nam hình thành hệ thống quản trị quốc gia vận hành dựa trên dữ liệu và AI, nền kinh tế AI có năng lực cạnh tranh, hệ sinh thái doanh nghiệp AI có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế; trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, phát triển sản phẩm, dịch vụ và giải pháp AI quan trọng của khu vực và toàn cầu.
-Hạ Chi
Nguồn:vneconomy.vn

