Trong bối cảnh các cam kết giảm phát thải khí nhà kính ngày càng được thúc đẩy mạnh mẽ trên toàn cầu, thị trường carbon đang mở ra kỳ vọng trở thành nguồn lực tài chính mới cho nông nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là liệu tín chỉ carbon có đủ hấp dẫn để tạo động lực lâu dài cho nông dân và doanh nghiệp tham gia chuyển đổi sang mô hình sản xuất phát thải thấp hay không.
Đây cũng là nội dung được nhiều chuyên gia thảo luận tại
webinar “Cơ hội từ thị trường các-bon cho nông hộ và nông nghiệp bền vững – Từ
góc nhìn của dự án sản xuất lúa gạo phát thải thấp” do Mạng lưới Nghiên cứu
chính sách nông lâm nghiệp tổ chức chiều 21/5/2026.
DỰ ÁN LÚA GẠO PHÁT THẢI THẤP HƯỚNG TỚI TÍN CHỈ CARBON
Tại hội thảo, các chuyên gia đã chia sẻ kinh nghiệm triển
khai dự án tín chỉ carbon trong nông nghiệp, từ khâu thiết kế, vận hành đến cơ
chế chia sẻ lợi ích; đồng thời phân tích những rào cản về kỹ thuật, tài chính
và chính sách đối với thị trường carbon tại Việt Nam.
Một trong những mô hình được quan tâm là dự án “Phát triển
chuỗi giá trị lúa gạo bền vững cho nông hộ sản xuất quy mô nhỏ tại Đồng Tháp”
do Rikolto triển khai giai đoạn 2022 – 2035. Dự án có quy mô khoảng 14.500 ha,
hỗ trợ khoảng 8.000 hộ nông dân.
Theo kế hoạch, dự án lúa gạo của Rikolto đang hướng tới thị trường carbon tự
nguyện theo tiêu chuẩn Gold Standard, dự kiến hoàn tất thẩm định vào tháng
6/2026 và phát hành tín chỉ carbon đầu tiên vào năm 2027″.
Theo ông Nguyễn Tuấn Anh, quản lý dự án lúa gạo của Rikolto
tại Việt Nam, mục tiêu của dự án là giảm khoảng 1 triệu tấn CO2 vào năm 2035
thông qua áp dụng các giải pháp canh tác bền vững như tiêu chuẩn SRP, tưới ngập
khô xen kẽ (AWD), quản lý rơm rạ và giảm vật tư đầu vào. Song song với mục tiêu
giảm phát thải, dự án còn hướng tới giúp nông dân giảm từ 20 – 40% chi phí sản
xuất.
Ông Tuấn Anh cho rằng, điều quan trọng nhất không phải là
kỳ vọng vào nguồn thu lớn từ tín chỉ carbon mà là tạo ra lợi ích thực tế cho
nông dân ngay từ đầu. Theo đó, việc giảm chi phí đầu vào được xem là giải pháp
thiết thực và dễ kiểm soát hơn so với việc phụ thuộc vào giá bán nông sản hay
giá tín chỉ carbon trên thị trường.
Ngoài hỗ trợ kỹ thuật, dự án còn triển khai nhiều hoạt động
như xây dựng mô hình trình diễn, hỗ trợ máy móc cho hợp tác xã, tư vấn chứng nhận
SRP và kết nối tiêu thụ gạo phát thải thấp. Hiện đã có hai hợp tác xã tại Đồng
Tháp hoàn thành chứng nhận SRP và dự kiến xuất khẩu khoảng 3 container gạo SRP
sang thị trường Mỹ trong năm nay.
Không chỉ dừng ở giảm phát thải, dự án còn thúc đẩy mô
hình kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp thông qua tận dụng rơm rạ để trồng nấm,
sản xuất phân hữu cơ, phát triển sinh kế cho phụ nữ nông thôn và xây dựng mô
hình nông nghiệp tái sinh quanh Vườn quốc gia Tràm Chim National Park nhằm giảm
tác động đến đa dạng sinh học.
THỊ TRƯỜNG CARBON NÔNG NGHIỆP VẪN ĐỐI MẶT NHIỀU THÁCH THỨC
Dù vậy, nhiều chuyên gia cho rằng bài toán kinh tế của
các dự án carbon trong nông nghiệp vẫn còn không ít thách thức. Ông Lê Tuấn,
Giám đốc Chương trình Gạo khu vực Đông Nam Á của Rikolto, nhận định nguồn thu từ
tín chỉ carbon hiện chưa đủ hấp dẫn nếu chỉ chia trực tiếp cho từng hộ nông
dân. Với quy mô sản xuất phổ biến chỉ khoảng 1 – 3 ha/hộ, khoản thu từ carbon vẫn
còn khá hạn chế.
Theo tính toán của dự án, nếu áp dụng đồng bộ các giải
pháp canh tác bền vững như AWD, giảm phân bón, quản lý rơm rạ và tiêu chuẩn
SRP, chi phí sản xuất có thể giảm khoảng 30%. Trong bối cảnh chi phí canh tác
lúa hiện dao động từ 22 – 25 triệu đồng/ha/vụ, khoản tiết giảm này được đánh
giá có ý nghĩa thiết thực hơn nhiều so với nguồn thu trực tiếp từ bán tín chỉ
carbon.
Các chuyên gia cũng nhấn mạnh rằng carbon chỉ nên được
xem là một phần trong tổng thể lợi ích mà nông dân nhận được. Quan trọng hơn là
nâng cao giá trị hạt gạo, cải thiện sinh kế, giảm chi phí đầu vào và mở rộng khả
năng tiếp cận thị trường xuất khẩu.
Bên cạnh bài toán lợi ích, việc triển khai dự án carbon
trong nông nghiệp còn đối mặt với nhiều khó khăn kỹ thuật. Theo ông Trần Hồng
Thanh, cán bộ carbon Chương trình lúa gạo Rikolto, lĩnh vực trồng lúa phát thải
lớn chủ yếu từ khí metan phát sinh trong quá trình canh tác ngập nước, xử lý
rơm rạ và sử dụng phân bón.
Thách thức lớn nhất hiện nay là khâu thu thập và xác minh
dữ liệu phát thải. Mỗi hợp tác xã có lịch thời vụ, điều kiện canh tác và phương
thức tưới tiêu khác nhau nên việc theo dõi chu kỳ khô – ngập, đo đạc thực địa
và quản lý nhật ký sản xuất đòi hỏi nguồn lực rất lớn.
Một vấn đề khác được quan tâm là nguy cơ chồng lấn tín chỉ
carbon giữa các dự án hoặc với các chương trình quốc gia, trong đó có Đề án
“Phát triển bền vững một triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải
thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030”.
Nếu chỉ dựa vào nguồn thu từ tín chỉ
carbon thì rất khó tạo sức hút lâu dài với nông hộ. Để dự án bền vững, cần kết
hợp nhiều giá trị cùng lúc như giảm chi phí sản xuất, nâng giá trị nông sản, cải
thiện sinh kế và tăng khả năng tiếp cận thị trường”.
Đại diện Rikolto cho biết dự án hiện ưu tiên triển khai tại
những khu vực chưa thuộc phạm vi Đề án 1 triệu ha nhằm bảo đảm tính minh bạch
và tránh xung đột dữ liệu trong tương lai.
Về tài chính, dự án đang vận hành theo mô hình “prefinance”,
tức nhà đầu tư ứng vốn trước cho toàn bộ hoạt động kỹ thuật, đào tạo, thu thập
dữ liệu và xây dựng hệ thống giám sát. Với mục tiêu tạo ra khoảng 1 triệu tín
chỉ carbon trong 10 năm, nhà tài trợ cam kết hỗ trợ khoảng 5 triệu euro cho dự
án.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, đầu tư vào thị trường
carbon vẫn mang tính “mạo hiểm” do nhà đầu tư phải đối mặt với nhiều rủi ro, từ
khả năng nông dân không đáp ứng yêu cầu kỹ thuật cho đến thay đổi chính sách
trong tương lai.
Ông Tô Xuân Phúc, chuyên gia phân tích chính sách của
Forest Trends, cho rằng mô hình lúa gạo phát thải thấp tại Đồng Tháp có nhiều
điểm tương đồng với các ngành hàng khác như cà phê, cao su hay lâm nghiệp. Vì vậy,
các lĩnh vực này hoàn toàn có thể học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau trong quá trình phát
triển dự án carbon.
-Chu Minh Khôi




