Để thích ứng với bối cảnh mới, cách tiếp cận và tư duy cũ đối
với khu vực FDI cần một cuộc cách mạng thay đổi căn bản. Thay vì chỉ tập trung
vào khái niệm “thu hút đầu tư trực tiếp” thuần túy, chúng ta cần xem FDI là một
cấu phần hữu cơ không thể tách rời của mô hình tăng trưởng. Sự chuyển dịch này
đòi hỏi một lộ trình thay đổi toàn diện, từ chính sách thu hút vốn, chiến lược
phát triển công nghiệp, hạ tầng cho đến việc xây dựng hệ sinh thái bền vững.
Chúng ta không chỉ coi doanh nghiệp nước ngoài là nguồn vốn
quan trọng, mà phải xem họ là chủ thể trọng yếu giúp nâng tầm năng lực quốc gia
và sức mạnh ngành nghề. Mục tiêu cao nhất là xây dựng một nền kinh tế độc lập,
tự cường, tự chủ chiến lược nhưng vẫn gắn kết mật thiết với dòng chảy hội nhập
quốc tế.
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con trong giai đoạn
2026-2030, Việt Nam đang đối diện với nhu cầu vốn khổng lồ, tổng lượng vốn cần
huy động ước tính lên tới 38,5 triệu tỷ đồng. Trong khi khu vực Nhà nước dự kiến
đóng góp khoảng 8,3 – 8,5 triệu tỷ đồng, thì phần lớn nguồn lực còn lại (hơn 30
triệu tỷ đồng) phải được khơi thông từ khu vực tư nhân, các quỹ đầu tư và doanh
nghiệp nước ngoài.
Do đó, nhiệm vụ hàng đầu là hoàn thiện thể chế để đón đầu
làn sóng FDI thế hệ mới. Điểm đột phá trong định hướng này là không chỉ chú trọng
vốn đầu tư trực tiếp mà còn phải đặc biệt quan tâm đến dòng vốn gián tiếp
(FII). Đây là nhiệm vụ trọng tâm khi Nghị quyết mới của Bộ Chính trị về kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài sắp được ban hành với phạm vi bao quát rộng lớn hơn.
Việc thu hút FDI giờ đây không chỉ là câu chuyện số lượng, mà là chất lượng và
khả năng lan tỏa giá trị. Việt Nam cần những cải cách đột phá, từ môi trường
kinh doanh đến các cơ chế thử nghiệm (sandbox) để tối ưu hóa hiệu quả đầu tư.
Để thu hút được FDI thế hệ mới và thúc đẩy liên kết giữa khu
vực kinh tế FDI và khu vực kinh tế trong nước, Việt Nam phải đổi mới căn bản tư
duy, tầm nhìn, mục tiêu thúc đẩy. Chiến lược mới của Việt Nam được định hình
qua bốn từ “khóa vàng”.
Từ khóa thứ nhất: Tính
tổng thể. Thu hút FDI trước đây thường nhấn mạnh từ “thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài”, thì nay phải coi FDI là một cấu phần của mô hình tăng trưởng, mô
hình phát triển của Việt Nam. Chúng ta phải thay đổi tổng thể lại các chính
sách: từ chính sách thu hút FDI, chính sách phát triển các ngành công nghiệp,
chính sách phát triển hạ tầng cũng như tạo dựng hệ sinh thái. Điều này vô cùng
quan trọng.
Thay vì những báo cáo địa phương chỉ tập trung vào con số tỷ
USD vốn thực hiện một cách rời rạc, cần phải coi FDI là một phần của mô hình
tăng trưởng quốc gia. Chính sách phải có tính liên kết từ thu hút đầu tư, phát
triển công nghiệp đến hạ tầng và hệ sinh thái. Tôi khẳng định không có sự mâu
thuẫn giữa các Nghị quyết như: Nghị quyết số 10-NQ/TW (năm 2017), Nghị quyết số
68-NQ/TW về phát triên kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 12-NQ/TW về đổi mới sắp xếp
doanh nghiệp nhà nước và Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước,
Nghị quyết số 50-NQ/TW về FDI (năm 2019). Sắp tới có Nghị quyết mới về kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài rộng hơn, trước đây chỉ là thể chế, chính sách thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài thì giờ là cả FII (đầu tư gián tiếp nước ngoài) và
FDI,… tất cả phải được nhìn trong một chỉnh thể thống nhất.
Chúng ta phải nhìn các chính sách này trong tổng thể để phân
định rõ vai trò doanh nghiệp nhà nước là then chốt trong lĩnh vực quốc phòng an
ninh – những lĩnh vực tư nhân không làm được. Chúng ta cũng không coi doanh
nghiệp nước ngoài là nguồn vốn quan trọng mà phải là chủ thể giúp nâng cao năng
lực quốc gia và các ngành nghề.
Từ khóa thứ hai: Hệ
sinh thái. Cách tiếp cận này bao hàm từ chính sách ưu đãi, hạ tầng đến tư
duy quản lý. Ứng xử của bộ máy công quyền phải chuyển từ “quản lý” sang “thúc đẩy”
tạo điều kiện cho các chủ thể này phát triển. Hệ sinh thái cũng đồng nghĩa với
việc không chỉ mải mê tìm kiếm dự án mới mà phải chú trọng nuôi dưỡng, nâng cấp
các doanh nghiệp FDI hiện hữu để họ tốt hơn, đầy đủ hơn bên cạnh cái mới. Trong
đó, nội địa hóa không chỉ là tỷ lệ phần trăm, mà là doanh nghiệp Việt làm được
gì và tham gia sâu đến đâu vào chuỗi giá trị.
Từ khóa thứ ba: Đồng
kiến tạo. Thu hút FDI không chỉ để lấy vốn hay giải quyết việc làm (điều
chúng ta hay nhấn mạnh trước đây), mà phải đóng vai trò chuyển giao quản trị,
nâng cao năng lực nền kinh tế và vị thế của Việt Nam trên bản đồ toàn cầu.
Từ khóa thứ tư: Toàn cầu.
Các liên kết không nên chỉ giới hạn ở thị trường 100 triệu dân trong nước, mà
phải hướng ra biển lớn để khai thác giá trị gia tăng từ thị trường quốc tế.
Để thực hiện triết lý trên, đòi hỏi các chính
sách trong thời gian tới phải được triển khai đồng bộ. Nghị quyết mới về khu vực
kinh tế đầu tư nước ngoài sắp ban hành (đã lấy ý kiến lãnh đạo và đang hoàn thiện
để đạt yêu cầu tốt hơn), tuy nhiên, sau Nghị quyết phải có các chính sách chuyên
ngành song hành trên mọi lĩnh vực.
Đối với các chính sách chung, cần đổi mới đồng bộ một loạt
chính sách về đất đai, đầu tư, quy hoạch, xây dựng, thuế, dữ liệu, trí tuệ nhân
tạo (AI), khoa học và công nghệ, tài chính. Đặc biệt về đất đai, Quốc hội sẽ sửa
đổi toàn diện trong kỳ họp cuối năm 2026, như: thời hạn cho thuê, phân tầng
phân loại và giá cả, thủ tục nhanh chóng,… đây là yêu cầu cấp bách phải sửa.
Về sandbox, cần mạnh dạn hơn trong các khuôn khổ thử nghiệm ở
các lĩnh vực mới và cần thay đổi tư duy tiếp cận. Hiện nay chúng ta đang tiếp cận
theo kiểu từng ngành phát sinh riêng lẻ rồi trình và xây dựng sandbox, dẫn đến
thời gian chờ đợi rất lâu (như sandbox trong lĩnh vực ngân hàng mất hơn 3 năm).
Ở góc độ ngành, Bộ Công Thương đang được chỉ đạo xây dựng một
loạt các chính sách phát triển công nghiệp, thực hiện công nghiệp hóa, ví dụ
như Luật Công nghiệp trọng điểm; rà soát lại toàn bộ chiến lược phát triển công
nghiệp để phù hợp yêu cầu mới, triển khai các chương trình Go Global; cải thiện
chi phí logistics (hiện đang chiếm khoảng 18% – mức rất cao).
Các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, tiền tệ cũng phải có thay
đổi về cơ chế chính sách, tái cơ cấu hệ thống, các gói hỗ trợ ngành ưu tiên.
Lĩnh vực năng lượng cần chính sách đột phá cho điện gió ngoài khơi, năng lượng
tái tạo. Phải thực hiện quyết liệt quy hoạch không gian biển và các nghị định
liên quan.
Cơ chế cho ngân sách địa phương để hỗ trợ doanh nghiệp cần
được cải cách. Nhiều địa phương có tiền nhưng không làm được gì. Lấy ví dụ như
Cà Mau, tiền từ bán xổ số 2.200 tỷ đồng, nhưng không được dùng tiền này để hỗ
trợ chi phí đào tạo cho doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, cần thực hiện tổng rà soát việc ưu đãi đầu tư.
Thu hút FDI theo từng ngành và lĩnh vực cụ thể cần phải thực hiện tổng rà soát
và cải tiến mạnh mẽ. Nếu không rà soát, hiện nay đang ưu đãi tràn lan tới 78%
các phân ngành công nghiệp chế tạo cấp 2. Điều này cần phải được tập trung thu
hẹp lại, cần xác định rõ địa bàn, loại hình doanh nghiệp ưu tiên. Thay vì chỉ tập
trung ưu đãi thuế (đầu vào) như trước đây, cần chuyển sang các hình thức ưu đãi
dựa trên kết quả đầu ra và gắn với các cam kết cụ thể của doanh nghiệp.
Việt Nam cần xây dựng một Chương trình quốc gia về các lĩnh
vực công nghiệp ưu tiên. Đây sẽ là cơ sở để Chính phủ trực tiếp đàm phán với
các tập đoàn, doanh nghiệp lớn theo thỏa thuận chung, thay vì để các địa phương
tự quyết định toàn bộ như hiện nay.
Vấn đề nguồn vốn là nội dung rất quan trọng. Có hai điểm mấu
chốt cần lưu ý, đó là cần thực sự khơi thông các nguồn vốn FDI thông qua việc cải
cách thủ tục hành chính và tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi.
Một ý kiến rất chính xác mà các đại biểu đã đề xuất tại Diễn
đàn đó là việc chú trọng vào dòng vốn xuyên biên giới. Vốn ODA của Việt Nam là
một nguồn lực nhưng quá đắt, nhiều ràng buộc. Do đó, tháo gỡ dòng vốn xuyên
biên giới thông qua các định chế tài chính quốc tế, các quỹ là vấn đề Việt Nam
phải suy nghĩ.
Nhằm thu hút FDI thế hệ mới, một số kiến nghị được đưa ra
như: Việt Nam cần cải tiến các hợp đồng PPA (hợp đồng mua bán điện), hình thức
bảo lãnh, cải thiện điều kiện để hưởng lãi suất thấp hơn, dòng vốn rẻ hơn… Phát
triển ngành công nghiệp quỹ (quỹ chỉ số, quỹ tín thác…) từ các chính sách thuế
phù hợp, với tinh thần muốn cạnh tranh phải theo thông lệ quốc tế, thậm chí phải
vượt trội và ưu đãi hơn; nếu quá ràng buộc, quá chặt chẽ thì không thể cạnh
tranh được.
Cùng với các chính sách trên, chính sách hỗ trợ cho doanh
nghiệp trong nước, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa phải được thực hiện
một cách thực chất trước, trong và sau khi thu hút FDI. Việc sửa đổi Luật Hỗ trợ
doanh nghiệp nhỏ và vừa là yêu cầu bắt buộc. Bên cạnh đó, các địa phương cần sử
dụng ngân sách một cách linh hoạt để tham gia vào cơ chế đào tạo nhân lực, tạo
ra mô hình liên kết chặt chẽ giữa “Địa phương – Nhà trường – Doanh nghiệp”, lấy
kinh nghiệm thành công của Bắc Ninh làm bài học lan tỏa.
Đối với doanh nghiệp FDI, cần có chính sách khuyến khích họ
sử dụng lợi nhuận chưa chuyển về nước để tái đầu tư dự án thứ hai tại Việt Nam
thông qua các chính sách ưu đãi tốt hơn cho những dự án mở rộng (dự án thứ 2),
tạo thuận lợi hơn trong chuyển nhượng quyền sử dụng đất…
Yếu tố quyết định sự thành bại chính là “kỷ luật thực thi”.
Một chủ trương đúng đắn nhưng nếu không được thể chế hóa nhanh chóng, thống nhất
và ổn định thì sẽ khó tạo ra thay đổi. Chúng ta cần tránh tình trạng mỗi địa
phương áp dụng chính sách một kiểu, thay vào đó phải cắt giảm thực chất chi phí
tuân thủ cho doanh nghiệp.
Việt Nam nhất quán quan điểm coi doanh nghiệp FDI là một phần
quan trọng của đất nước trong dài hạn. Dù quá trình thể chế hóa có thể còn những
bước chậm, nhưng với sự tin tưởng và lắng nghe lẫn nhau, chúng ta chắc chắn sẽ
tạo ra những không gian phát triển mới đầy hứa hẹn.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 18 +19-2026 phát hành ngày 11/05/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.htm







